Latest Post
10 đặc điểm tính cách của người Việt Nam 13 đặc điểm chứng tỏ bạn đã tu từ kiếp trước nên nhất định có phúc báo 18 bí quyết để có được vận mệnh tốt 64 Quẻ Dịch 7 kiểu người sẽ nhận được phúc báo và gặp nhiều quý nhân 8 quẻ cung Chấn 8 quẻ cung Càn 8 quẻ cung Cấn 8 quẻ cung Khôn 8 quẻ cung Khảm 8 quẻ cung Ly 8 quẻ cung Tốn 8 quẻ cung Đoài 9 điều dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma An lục thân cho 64 quẻ dịch Bài học thành công Bàn tay Ánh sáng: Chương 1 Trải nghiệm chữa trị Bàn tay Ánh sáng: Chương 2 Cách sử dụng cuốn sách Bàn tay Ánh sáng: Chương 3 Ghi ghép về rèn luyện và phát triển việc hướng dẫn Bàn tay Ánh sáng: Lời giới thiệu Bàn tay Ánh sáng: Phần II Hào quang con người Bàn tay ánh sáng: Chương 10A Chẩn đoán luân xa hay chẩn đoán trung tâm năng lượng Bàn tay ánh sáng: Chương 10B Bàn tay ánh sáng: Chương 11 Quan sát hào quang trong các buổi chữa bệnh Bàn tay ánh sáng: Chương 12 Tắc nghẽn năng lượng và các hệ thống phòng vệ trong hào quang Bàn tay ánh sáng: Chương 13 Hào quang và mô hình luân xa của các cấu trúc đặc tính chủ yếu Bàn tay ánh sáng: Chương 14 Nguyên nhân bệnh tật Bàn tay ánh sáng: Chương 15 Từ tắc nghẽn đến bệnh tật Bàn tay ánh sáng: Chương 16 Quá trình chữa trị một quan điểm tổng quát Bàn tay ánh sáng: Chương 17 Trực tiếp đáo đạt thông tin Bàn tay ánh sáng: Chương 18 Thấu thị Bàn tay ánh sáng: Chương 19 Thính giác cao cấp và việc liên lạc với các thầy dạy tâm linh Bàn tay ánh sáng: Chương 20 Ẩn dụ của Heyoan về thực tại Bàn tay ánh sáng: Chương 22 Chữa trị tổng phổ Bàn tay ánh sáng: Chương 23 Chữa trị bằng màu sắc và âm thanh Bàn tay ánh sáng: Chương 24 Chữa trị các chấn thương xuyên thời gian Bàn tay ánh sáng: Chương 25 Tự chữa trị và thầy chữa tâm linh Bàn tay ánh sáng: Chương 26 Sức khỏe thách thức để trở thành chính mình Bàn tay ánh sáng: Chương 27 Sự phát triển của thầy chữa Bàn tay ánh sáng: Chương 4 So sánh cách nhìn bản thân và thực tại của chúng ta với các quan điểm khoa học phương Tây Bàn tay ánh sáng: Chương 5 Lịch sử nghiên cứu khoa học về trường năng lượng con người Bàn tay ánh sáng: Chương 6 Trường năng lượng vũ trụ Bàn tay ánh sáng: Chương 7A Trường năng lượng con người hay hào quang con người Bàn tay ánh sáng: Chương 7B Bàn tay ánh sáng: Chương 7C Bàn tay ánh sáng: Chương 9 Chức năng tâm lý của bảy luân xa chính Bàn tay ánh sáng: Phần III Chương 8 Các động lực tâm lý và trường năng lượng của con người Bàn tay ánh sáng: Phần V Chương 21 Chữa trị tâm linh Bí quyết thiết thực để cải biến vận mệnh Chuyển hóa sân giận thành yêu thương Chọn hướng xuất hành Con lừa ngốc ngếch đến chết vẫn không hiểu nguyên do Con người về cơ bản là khác nhau Cuốn sách đoán mệnh cổ nhất của Trung Quốc Cách Làm Quan và những sao Qúy Cách bệnh tật và những sao ốm đau Cách gian phi trong tử vi Cách giàu và những sao hữu sản Cách hay ăn hay nhậu Cách hiếm muộn trong khoa tử vi Cách hùng biện và các sao về ăn nói Cách khoa bảng và các sao học vấn Cách nghèo và những sao nghèo Cách nghề nghiệp và những sao bá nghệ Cách ái tình và các sao tình dục Cách đa ngôn và các sao ăn nói Cách đi tu trong lá số tử vi Cách đàn bà đa phu (nhiều chồng) trong tử vi Cách đàn ông sợ vợ trong tử vi Có nên phó mặc cho số phận Cô chấp và khổ đau Giới thiệu về Osho và các tác phẩm của Osho Học cách tu cái miệng Kim Cương Thừa Kim cang thừa một đời người một câu chú Kinh dịch - dự đoán quan vận Kinh dịch - dự đoán tài vận Làm theo phương pháp này của Warren Buffett dù việc có nhiều đến mấy bạn cũng hoàn thành dễ dàng Lý giải mới về nguyên nhân khác biệt văn hóa Đông Tây Lý thuyết dụng thần tứ trụ - Chìa khóa để cải vận Lịch sử khoa tứ trụ Miệng luôn tạo khẩu nghiệp phúc báo sớm muộn cũng chạy mất Mẫu văn khấn năm Bính Thân (2016) Một số bài học thú vị Một số câu chuyện ứng nghiệm Hà Lạc dự báo Một số lời dạy của Đức Đạt lai Lạt mavề Phật giáo Kim cương thừa Người lương thiện không tranh không cãi người tranh cãi không phải người lương thiện Ngẫu nhiên và tất nhiên Những vị trí không nên động thổ trong năm 2016 Năng lực cải vận của số điện thoại Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Báo trước Hai bà và một sư Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Chương I Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Chương II Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Chương III Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Chương IV Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Chương IX Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Chương V Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Chương VI Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Chương VII Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Chương VIII Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Chương X Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Chương XI Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Chương XII Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Chương XIII Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Chương XIV Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Chương XV Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Chương XVI Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Chương XVII Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Lời bạt: Nắm lấy nghịch lí Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Mục lục Phong thủy: Chuyện người xưa chọn đất làm nhà Phong thủy: Nguyên tắc hóa giải ngũ hoàng sát Phật gia giảng ‘cần buông bỏ’ nhưng rốt cuộc là buông bỏ điều gì? Quy luật tính phương vị hỷ thần Sức hấp dẫn của kinh dịch Thần số học - khoa học về dự đoán Tri thức là sức mạnh Triết lý sâu sắc của luận sư Ấn Độ Con người luôn ở trong vòng luẩn quẩn vì 8 mối quan tâm này Trạch cát hay thuật chọn ngày tốt Tính danh học Tính nguyên vận để xem thịnh suy của gia trạch Tất cả chúng ta đều phải “trở về nhà” Tổng quan về ứng dụng thuật phong thủy trong quy hoạch xây dựng và kiến trúc Vài Bí Quyết Tử Vi Ít Người Biết - Tiến Sĩ Đằng Sơn Vài nét về kinh dịch Vài so sánh giữa triết học phương Đông và triết học phương Tây Vì sao những người yêu nhau hãy nên trân trọng nhau Văn hóa giao tiếp của người Việt Nam Vận mệnh con người có thay đổi được không Xem tuổi vợ cho nam sinh năm Bính Thìn Xem tuổi vợ cho nam sinh năm Canh Thân Xem tuổi vợ cho nam sinh năm Giáp Dần Xem tuổi vợ cho nam sinh năm Kỷ Hợi Xem tuổi vợ cho nam sinh năm Kỷ Mùi Xem tuổi vợ cho nam sinh năm Mậu Ngọ Xem tuổi vợ cho nam sinh năm Mậu Tuất Xem tuổi vợ cho nam sinh năm Nhâm Tuất Xem tuổi vợ cho nam sinh năm Quý Hợi Xem tuổi vợ cho nam sinh năm Tân Dậu Xem tuổi vợ cho nam sinh năm Đinh Tị Xem tuổi vợ cho nam sinh năm Ất Mão Y phục xứng kỳ đức chọn ngày khai trương trong năm Đinh Dậu (2017) các sao ăn nhậu ngày khai trương năm Bính Thân (2016) tài thần và hạc thần Ý nghĩa phong thủy và tác dụng của đá Ruby Điển tích về Mai hoa dịch số Đôi điều về bát tự - Hà Lạc Đông Tây giao thoa Đạo Phật và 7 sự hiểu lầm phổ biến vô cùng nguy hiểm Đạo sĩ tu luyện 300 năm trong núi sâu vén mở bí mật về công năng đặc dị Đạo Đức và Luân Lý Đông Tây Đạo đức nghề nghiệp của người làm thầy Đặc Tính Cửu Tinh Trong Huyền Không Phi Tinh “Buông bỏ” là một loại trí tuệ biết buông bỏ mới có được hạnh phúc! “Nhẫn nhường” không phải hèn yếu mà là khí chất của người quân tử

CHƯƠNG 1

TRẢI NGHIỆM CHỮA TRỊ

PHẦN I

SỐNG TRÊN HÀNH TINH NĂNG LƯỢNG

Tôi vẫn cho rằng sự xúc cảm ngưỡng mộ thiêng liêng đối với vũ trụ là niềm khích lệ nghiên cứu khoa học mạnh nhất và cao nhã nhất.
Albert Einstein.
Trong những năm thực hành chữa trị tôi được ưu tiên làm việc với nhiều người thú vị. Đây là một số trong những người đó cùng câu chuyện về họ, làm cho ngày tháng trong cuộc đời của người thầy chữa trị trọn vẹn biết bao.
Bệnh nhân đầu tiên của tôi vào một ngày tháng mười năm 1984 là một chị trên hai mươi lăm tuổi tên Jenny. Jenny là một cô giáo hoạt bát, cao khoảng 5 feet 5 in ( 1 foot = 0,8048 m; 1 inch = 2,54 cm – ND), đôi mắt to màu xanh lơ, tóc huyền. Bè bạn gọi chị là Oải hương Phu nhân, vì chị yêu màu hoa Oải hương (màu tím nhạt – ND) và thường xuyên mặc áo quần màu nầy. Jenny cũng có một cửa hàng kinh doanh hoa hoạt động ngoài giờ và xếp các bó hoa cưới hoặc hoa trang trí hội hè rất trang nhã. Vào thời gian đó, chị đã xây dựng gia đình được vài năm với một nhà quảng cáo thành đạt. Jenny bị sẩy thai mấy tháng trước và không còn khả năng có thai. Khi Jenny tới bác sĩ để khám xem tại sao mình không thể thụ thai thì chị nhận được vài tin tức không tốt lành. Sau nhiều xét nghiệm và phát biểu của một vài thầy thuốc khác, người ta đặt chỉ định phẫu thuật cắt dạ con càng sớm càng tốt. Có những tế bào bất thường trong dạ con, ở chỗ bám của rau thai, Jenny lo sợ và quẩn trí. Hai vợ chồng chị đã chờ đợi đến khi tài chính đủ mạnh có thể giúp đỡ gia đình, nhưng bây giờ thì xem chừng không còn khả năng đó.
Lần đầu tiên Jenny đến với tôi, vào tháng tám năm ấy, chị không hề kể chuyện bệnh tật mà chỉ bảo: “Em cần sự giúp đỡ của chị. Chị hãy nói cho em biết những gì chị nhìn thấy trong con người em. Em phải quyết định một việc hệ trọng. "
Trong buổi chữa trị, tôi sử dụng tri giác cao cấp của mình nhìn vào trường năng lượng (hào quang) của chị. Tôi “thấy” một số tế bào bất thường trong dạ con ở phía dưới trái. Cùng lúc đó tôi “thấy” cả những tình huống xung quanh việc sẩy thai. Các tế bào bất thường này khu trú tại vị trí bám của rau thai. Tôi cũng “nghe được” những lòi lẽ mô tả hoàn cảnh của Jenny và điều cần làm về vấn đề nầy. Lời phán bảo nói rằng Jenny cần phải bỏ ra một tháng để đến bên bờ đại dương, dùng một số vitamin đặc hiệu, kiêng khem một vài loại thức ăn và thiền định hằng ngày, mỗi ngày ít nhất hai giờ, sau khi tự chữa một tháng như vậy, chị phải trở về cơ sở y tế và xét nghiệm lại. Tôi được cho biết rằng việc chữa trị hoàn tất và chị không phải trở lại chỗ tôi. Trong buổi chữa đó, tôi nhận được thông tin về tâm trạng của chị và cách thức tác động của tâm trạng này lên tình trạng mất khả năng tự chữa trị của chị. Chị căm ghét bản thân về chuyện sẩy thai. Hậu quả là chị đặt một cái "stress" lên người mình và ngăn cản thân thể tự chữa trị sau khi sẩy thai. Tôi cũng nghe phán bảo (và điều này là phần gay go cho tôi) rằng trong ít nhất là một tháng chị ta không được đi khám bác sĩ khác bởi vì việc chẩn đoán nầy nọ và việc thúc ép cắt dạ con chỉ tổ làm tăng them stress mà thôi. Lòng chị tan vỡ vì mong có đứa con mà không được. Chị đã khuây khoả phần nào khi rời chỗ làm việc của tôi, chị nói chị nhất định sẽ suy nghĩ them về mọi chuyện đã diễn ra trong buổi chữa.
Tháng mười, khi Jenny trở lại, trước tiên chị ôm chặt lấy tôi rồi tặng tôi một bài thơ ngắn lời lẽ dịu dàng để cám ơn. Các xét nghiệm của chị bình thường. Chị đã nghỉ cả tháng tám để trông nom con cái cho mấy người bạn ở Fire Island. Chị vẫn ăn kiêng, dùng vitamin và dành nhiều thời gian một mình thực hành tự chữa trị. Chị quyết định chờ thêm vài ba tháng nữa rồi sẽ thử xem có mang thai được không. Một năm sau, tôi được biết Jenny đã sinh một cháu trai khỏe mạnh .
Bệnh nhân thứ hai của tôi là Howard, cũng đến vào đúng ngày tháng mười đó. Ông là bố của Mary, một bệnh nhân được tôi chữa cách đó ít lâu, Mary trước đây được chẩn đoán có dấu hiệu tiền ung thư ở vú, chữa khoảng sáu buối thì hết. Chị thích công việc của tôi và đều đặn gởi bệnh nhân đến chỗ tôi.
Howard đã gặp tôi mấy tháng trước. Ông là công nhân hưu trí. Làm việc với ông rất thú vị. Lần đầu tiên đến chỗ tôi, ông xanh xao và thường xuyên bị tim. Khó khăn lắm ông mới bước qua được căn phòng mà không thấm mệt. Sau đợt chữa trị thứ nhất, nước da ông hồng hào và hết đau. Sau hai tháng được chữa trị hàng tuần, ông đã có thể khiêu vũ, Mary và tôi cùng nhau phối hợp việc chữa trị bằng cách đắp lên tay ông các thứ cỏ thuốc do một ông thầy lang kê đơn để chữa các tổn thương trên động mạch. Ngày hôm đó tôi cũng cân bằng và tăng lực cho trường năng lượng của ông. Các bác sĩ và bạn bè đều thấy rõ rệt ông đã khá hơn.
Một bệnh nhân khác hôm đó đến chỗ tôi là Ed. Lần đầu tiên anh đến chỗ tôi vì có vấn đề ở cổ tay. Các khớp ở chi trên và cổ tay anh ngày càng yếu. Anh cũng cảm thấy đau lúc cực khoái giao hợp. Trước đó ít lâu, anh thấy lưng yếu đi, và bây giờ tay yếu dần đến mức anh không thể cầm nổi một vật gì, thậm chí vài cái đĩa. Trong lần chữa đầu tiên, qua trường hào quang của anh, tôi “thấy” xương cụt bị tổn thương khi anh mới khoảng mười hai tuổi; trong thời gian bị thương nầy, anh có nhiều rối loạn phải giải quyết về các cảm giác tình dục nảy sinh vào tuổi dậy thì. Tai nạn làm giảm những cảm giác nầy và anh đã chịu đựng được tốt hơn.
Xương cụt của anh bị kẹt bên trái và không thể chuyển động bình thường để tham gia vào việc bơm dịch não tủy theo đường đi bình thường của nó. Điều đó gây nên sự mất cân bằng và suy nhược nghiêm trọng trong toàn bộ hệ thống năng lượng. Bước tiếp theo trong quá trình thoái hoá này là suy yếu phần lưng dưới, rồi lưng giữa, sau đó là phần lưng trên. Mỗi lần anh ta suy yếu do thiếu dòng chảy năng lượng ở một bộ phận nào thì bộ phần khác tìm cách bù lại suy yếu đó. Anh bắt đầu chống lại sức căng xảy ra ở các khớp của chi trên, và cuối cùng các khớp chịu thua và suy yếu. Toàn bộ quá trình suy yếu kéo dài nhiều năm.
Ed và tôi cùng tiến hành một quá trình chữa trị hữu hiệu trong vài tháng . Đầu tiên tôi thao tác với dòng chảy năng lượng để làm cho xương cụt hết bị kẹt, ngay ngắn trở lại, sau đó tăng cường và cân bằng dòng chảy năng lượng của anh. Sức lực anh dần dà trở lại như cũ. Trưa hôm ấy anh ta chỉ còn bị yếu chút ở cổ tay trái. Nhưng trước khi chú trọng đến điều đó, tôi lại cân bằng và tăng lực cho toàn bộ trường năng lượng của anh. Sau đó tôi dành thêm thời gian tác động cho năng lượng chữa trị tuôn chảy vào cổ tay.
Bệnh nhân cuối cùng của tôi trong ngày hôm ấy là Muriel, nghệ sĩ, vợ của một nhà phẫu thuật nổi tiếng. Đây là lần thứ ba chị hẹn gặp tôi. Ba tuần trước chị đã đến chỗ tôi với một tuyến giáp rất to. Trong lần đến gặp đầu tiên đó, tôi sử dụng tri giác cao cấp của mình để thu thập thông tin về hoàn cảnh của Muriel. Tôi thấy rằng tuyến giáp của chị to không phải do ung thư, và chỉ với hai lần chữa phối hợp với thuốc men mà bác sĩ đã kê cho chị, chỗ tuyến giáp to ra đã biến mất. Tôi thấy không cần mổ xẻ . Chị xác nhận rằng chị đã khám một vài bác sĩ và họ đã kê cho chị thuốc làm co tuyến giáp. Chị nói thuốc đã làm cho tuyến giáp nhỏ đi ít nhiều nhưng chị vẫn cần đến phẫu thuật và trường hợp của chị có thể là ung thư. Cuộc mỗ được dự định tiến hành một tuần sau lần gặp thứ hai. Tôi chữa riêng cho chị hai lần trong tuần. Đến hẹn chị tới bệnh viện để mổ thì các bác sĩ hết sức ngạc nhiên, không cần phải mổ nữa. Ngày hôm đó chị trở lại để yên trí xem mọi cái đã hồi phục lại như thường chưa. Đã.
Những sự kiện có vẻ kỳ lạ nầy xảy ra như thế nào? Tôi làm gì để giúp đỡ những con người này? Quá trình mà tôi sử dụng mệnh danh là chữa bệnh thao tác bàn tay, chữa bệnh bằng niềm tin hay chữa bệnh bằng tâm linh. Hoàn toàn không phải là một quá trình kỳ lạ, trái lại rất chân phương dù cho nhiều khi khá phức tạp. Nó là một phương thức cân bằng lại trường năng lượng mà tôi gọi là trường năng lượng con người vốn hiện hữu xung quanh chúng ta.
Ai cũng có một trường năng lượng hay là hào quang bao quanh và thâm nhập vào thân thể. Trường năng lượng này kết hợp chặt chẽ với sức khỏe. Tri giác cao cấp là phương thức lĩnh hội sự vật vượt qua phạm vi thông thường của giác quan con người. Nhờ nó, con người có thể nhìn, nghe, ngửi, nếm, thấy và xúc chạm những sự vật mà bình thường không cảm nhận được. Tri giác cao cấp là một kiểu “nhìn thấy” trong đó bạn thấy một bức tranh trong óc mà không cần sử dụng thị giác thông thường. Nó không phải là tưởng tượng. Đôi khi nó được coi như minh triết. Tri giác cao cấp phát hiện ra thế giới động lực các trường năng lượng sống tương tác lỏng ở xung quanh và xuyên qua mọi vật. Phần lớn cuộc đời tôi như ở giữa một cuộc khiêu vũ với cả đại dương năng lượng sống động trong đó con người tồn tại. Qua cuộc khiêu vũ đó, tôi đã phát hiện ra rằng năng lượng ấy truyền sức mạnh cho ta, nuôi dưỡng ta, cho ta cuộc sống. Ai cũng cảm thấy nặng lượng bên cạnh mình; ta là của nó, nó là của ta.
Bệnh nhân và học trò của tôi hỏi rằng tôi bắt đầu nhìn thấy trường năng lượng xung quanh mọi người từ bao giờ? Tôi bắt đầu thấy nó là công cụ có ích từ khi nào? Thế nào là có khả năng nhận ra sự vật vượt qua giới hạn của các giác quan con người? Trường hợp của tôi là đặc biệt hay có thể học hỏi để được như vậy?
Nếu thế thì họ có thể làm gì để mở rộng tri giác của chính mình, và điều nầy có giá trị như thế nào đối với cuộc đời của họ? Để trả lời được trọn vẹn các câu hỏi nầy, tôi phải quay lại buổi ban đầu.
Tuổi thơ của tôi rất bình dị. Tôi lớn lên trong một trang trại ở Wisconsin. Vì không có nhiều bạn chơi trong vùng, tôi thường tha thẩn một mình. Tôi ngồi một mình trong rừng hàng giờ, hết sức im lặng, chờ những con vật nho nhỏ bước đến với tôi. Tôi tập hòa mình vào xung quanh. Không phải là mãi về sau tôi mới bắt đầu hiểu hết ý nghĩa của những khoảng thời gian im lặng và chờ đợi đó. Giữa những khoảnh khắc yên tĩnh trong rừng, tôi đi vào một trạng thái bành trướng ý thức trong đó tôi có khả năng thấy được những sự vật vượt ra khỏi giới hạn trải nghiệm thông thường của con người.
Tôi nhớ là đã biết được từng con vật nhỏ trong rừng mà không cần nhìn. Tôi có thể cảm nhận được trạng thái đó. Khi tôi tập bịt mắt đi lại trong rừng, tôi cũng cảm nhận được cây cối trước khi tự tay tôi chạm tới. Tôi thấy rằng cây cối hiện ra to hơn là khi nhìn bằng mắt. Cây cối có trường năng lượng sống bao quanh, và tôi thấy các trường năng lượng đó. Về sau tôi tập nhìn trường năng lượng của cây và của các động vật nhỏ. Tôi phát hiện ra rằng mọi vật đều có trường năng lượng bao quanh, giống như ánh sáng của ngọn nến. Tôi cũng bắt đầu nhận thấy rằng mọi vật liên kết với nhau bằng các trường năng lượng nầy và không một không gian nào hiện hữu mà lại không có trường năng lượng. Mọi vật, kể cả tôi, đều sống giữa đại dương năng lượng.
Đối với tôi, điều đó không phải là phát hiện lý thú, mà chỉ đơn giản là trải nghiệm của mình, cũng tự nhiên như nhìn thấy con sóc đang ăn quá đấu trên cành cây vậy. Tôi không hề công thức hóa những trải nghiệm nầy vào bất cứ lý thuyết nào nói về cung cách hoạt động của thế giới. Tôi chấp nhận mọi thứ mình nhìn thấy trong trạng thái hoàn toàn tự nhiên, cho rằng ai ai cũng biết, sau đó tôi quên.
Lúc bước vào tuổi vị thành niên, tôi thôi không vào rừng nữa. Tôi bắt đầu quan tâm tới cung cách hoạt động của các sự vật và tại sao chúng lại như thế. Tôi thường đặt câu hỏi với mọi vật để tìm ra trật tự và để hiểu thế giới hoạt động như thế nào. Tôi vào trường đại học, nhận bằng cử nhân khoa học về Vật lý lưu uyển, rồi làm công tác nghiên cứu nhiều năm cho Cơ quan hàng không vũ trụ NASA. Về sau tôi học tập và trở thành cố vấn. Không phải cho đến khi tôi làm cố vấn một số năm tôi mới bắt đầu nhìn thấy màu sắc quanh đầu mọi người và nhớ tới những trải nghiệm trong rừng thời thơ ấu. Lúc bấy giờ tôi nghiệm ra rằng các trải nghiệm đó đã mở đầu cho tri giác cao cấp hay sức nhìn thấu thị của mình. Những trải nghiệm tuổi thơ thú vị và bí mật ấy cuối cùng đã dẫn đến khả năng chẩn đoán và chữa trị của tôi.
Khi nhìn lại, tôi có thể thấy mô hình phát triển các khả năng của tôi bắt đầu lúc lọt lòng. Cứ như là đời tôi đã được bàn tay vô hình nào đó dẫn dắt tới và đi qua từng trải nghiệm theo kiểu dẫn từng bước, rất giống kiểu dạy ở trường học – trường học đường đời như ta vẫn nói.
Trải nghiệm trong rừng giúp cho việc mở rộng các giác quan của tôi. Sau đó, việc học tập ở trường đại học giúp phát triển tư duy lô gíc. Việc rèn luyện để thành người cố vấn đã khai mở tầm nhìn, khai mở trái tim tôi ra toàn nhân loại. Cuối cùng, việc rèn luyện tâm linh (sau này tôi sẽ luận bàn về vấn đề nầy) làm cho tôi tin vào những trải nghiệm khác thường của mình để mở rộng tâm trí mà chấp nhận là “có thật”. Bấy giờ tôi bắt đầu tạo ra một khuôn khổ để nhờ đó mà hiểu thấu các trải nghiệm nầy. Dần dà tri giác cao cấp và trường năng lượng con người trở nên các bộ phận hợp thành của đời tôi.
Tôi tin tưởng vững chắc rằng chúng trở thành một phần cuộc đời của bất kỳ ai. Để phát triển tri giác cao cấp, cần phải đi vào một trạng thái bành trướng ý thức. Có nhiều phương pháp thực hiện việc nầy. Thiền định nhanh chóng trở thành nổi tiếng. Thiền định có thể thực hành bằng nhiều cách, điều quan trọng là tìm ra cách thích hợp nhất đối với bạn.
Trong phần sau của cuốn sách, tôi sẽ gợi ý cho bạn một vài cách để bạn có thể tùy ý lựa chọn. Tôi cũng thấy rằng bạn có thể đi vào trạng thái bành trướng ý thức bắng cách tản bộ, dạo chơi, câu cá, ngồi trên đụn cát ngắm sóng vỗ vào bờ hoặc ngồi trong rừng như tôi thuở nhỏ. Bạn đã tiến hành việc đó như thế nào, dù bạn gọi là thiền định hay mơ mộng, hay gì nữa? Điều quan trọng nhất ở đây là dành được đủ thời gian lắng nghe bản thân mình - thời gian để làm im ắng cái tâm trí huyên náo cứ liên tục nói về điều bạn cần làm, về cung cách bạn đã thắng được lý lẽ nọ, về điều mà bạn vẫn làm, về cái mà bạn cho là sai, v.v. và v.v. Khi tiếng líu lo không dứt đó bị cắt thì một thế giới mới trọn vẹn của thực tại hài hòa êm ái mở ra trước mắt bạn. Bạn bắt đầu hòa mình vào xung quanh, như tôi đã từng làm trong rừng. Cũng lúc đó, nhân cách của bạn không bị lãng quên mà được đề cao.
Quá trình hòa mình vào xung quanh là một phương thức khác để mô tả nhận thức mở rộng đang trải nghiệm.
Chẳng hạn, hãy lưu ý lần nữa đến cây nến và lửa ngọn nến. Thông thường ta đồng nhất hóa bản thân như một vật thể (sáp và bấc) với ý thức (ngọn lửa). Khi ta đi vào trạng thái bành trướng ý thức, ta nhận thấy ta cũng như ánh sáng phát ra từ ngọn lửa đó. Ánh sáng bắt đầu chỗ nào và ngọn lửa kết thúc ở đâu? Đấy dường như là một dòng kẻ. Nhưng khi nhìn kỹ hơn, bạn có biết chính xác đó là chỗ nào không?
Ngọn lửa bị ánh sáng thâm nhập hoàn toàn. Ánh sáng trong phòng, ngoài ánh sáng ngọn nến (đại dương năng lượng), có thâm nhập ngọn lửa không? Có. Ánh sáng trong phòng bắt đầu ở đâu và ánh sáng ngọn nến kết thúc ở đâu?
Theo vật lý học, không có ranh giới cho ánh nến; nó vươn tới vô tận. Vậy thì ranh giới cuối cùng của ta ở đâu?
Trải nghiệm của tôi về tri giác cao cấp, kết quả của bành trướng ý thức, là không có ranh giới. Tôi càng bành trướng ý thức thì tri giác cao cấp của tôi càng mở rộng, tôi càng có khả năng hơn trong việc nhìn thấy thực tại vốn ở sẵn đấy rồi nhưng trước đây nằm ngoài tầm giác quan của mình.
Nhờ tri giác cao cấp của bản thân mở rộng, thêm nhiều thực tại đi vào tầm mắt. Buổi đầu tôi chỉ nhìn thấy được những trường năng lượng thô xung quanh đồ vật: chỉ khoảng trên dưới 1 in cách mặt da. Khi đã thành thạo hơn, tôi có thể nhìn thấy trường nầy vượt quá mặt da xa hơn nữa nhưng rõ ràng là một chất mịn hơn hoặc một thứ ánh sáng kém mạnh hơn. Mỗi lần tôi nghĩ là mình đã tìm ra ranh giới thì một thời gian sau tôi lại thấy vượt ra xa hơn ranh giới đã tìm ra.
Đường ranh giới ở đâu? Tôi kết luận rằng thật dễ dàng hơn khi nói là chỉ có các lớp: lớp của ngọn lửa, sau đó là ánh sáng của ngọn lửa, rồi đến ánh sáng của căn phòng. Thật khó mà phân biệt được từng ranh giới. Muốn thấy được từng lớp phía ngoài đòi hỏi phải tăng cường bành trướng ý thức và hòa đồng tri giác cao cấp một cách tinh vi hơn. Khi trạng thái bành trướng ý thức của bạn phát triển thì ánh sáng mà trước đây bạn nhìn thấy lờ mờ nầy sẽ rạng lên và trở thành dễ xác định.
Qua nhiều năm dần dần phát triển tri giác cao cấp, tôi sưu tập các quan sát của mình. Phần lớn các quan sát nầy được tiến hành trong 15 năm làm cố vấn. Vốn được đào tạo về vật lý học, tôi hoài nghi khi lần đầu tiên bắt đầu “nhìn thấy” hiện tượng hào quang xung quanh thân thể con người. Song vì các hiện tượng vẫn cứ tồn tại, thậm chí cả khi tôi nhắm mắt lại để xua đuổi hình ảnh hoặc chuyển dịch xung quanh căn phòng, cho nên tôi bắt đầu quan sát kỹ càng hơn. Và cứ thế, cuộc hành trình của tôi bắt đầu, đưa tôi vào những thế giới mà trước đây tôi không biết là hiện hữu; làm thay đổi hoàn toàn cung cách trước đây tôi vẫn trải nghiệm về thực tại, con người, vũ trụ cùng mối quan hệ của tôi với vũ trụ.
Tôi thấy rằng trường năng lượng kết hợp mật thiết với sức khỏe và hạnh phúc của con người. Nếu một người không được khỏe thì điều đó biểu hiện rõ trong trường năng lượng bằng một dòng chảy năng lượng mất cân bằng và/hoặc năng lượng ứ trệ ngừng chảy và hiện ra thẩm màu . Màu sắc và hình thái nầy rất đặc trưng cho từng loại bệnh. Tri giác cao cấp rất có giá trị trong y học và trong vai trò tham vấn tâm lý học. Khi sử dụng tri giác cao cấp, tôi trở nên thành thạo trong việc chẩn đoán các vấn đề thể chất lẫn tâm lý và trong việc tìm ra biện pháp giải quyết các vấn đề đó.
Với tri giác cao cấp, cơ chế bệnh tâm thể nằm ngay trước mắt bạn. Tri giác cao cấp phát hiện cung cách mà phần lớn bệnh tật khởi đầu trong các trường năng lượng rồi qua thời gian và tập quán sống mà truyền sang thân thể, trở thành bệnh nặng. Nhiều khi nguồn gốc hoặc nguyên nhân khởi đầu của quá trình nầy phối hợp với chấn thương tâm lý và thân thể, hoặc kết hợp cả hai. Vì tri giác cao cấp phát hiện cung cách khởi đầu của bệnh tật cho nên nó cũng phát hiện cung cách đảo ngược quá trình bệnh tật.
Trong quá trình tập nhìn trường năng lượng, tôi cũng tập tương tác với nó một cách hữu thức, như với bất cứ vật gì tôi có thể nhìn thấy. Tôi có thể thao tác để cho trường năng lượng của mình tương tác với trường năng lượng của người khác. Tôi sớm học được cách làm cân bằng một trường năng lượng ốm yếu để người đó có thể trở lại sức khỏe tốt.
Hơn nữa, tôi thấy bản thân mình nhận được thông tin về nguồn gốc bệnh tật của bệnh nhân. Thông tin này dường như đến với tôi từ một trí óc có trình độ cao hơn bản thân tôi hoặc cái mà tôi thường coi là chính mình. Quá trình nhận thông tin theo cách nầy được gọi nôm na là dẫn kênh (channeling). Thông tin được dẫn kênh thường đến dưới hình thái lời nói, khái niệm hoặc bức tranh tượng trưng sẽ đi vào tâm trí tôi khi tôi tái cân bằng trường năng lượng của bệnh nhân.
Tôi luôn ở trạng thái biến đổi ý thức khi làm việc nầy. Tôi trở nên thành thạo trong việc nhận thông tin bằng cách kết hợp các biện pháp khi sử dụng tri giác cao cấp (tức là dẫn kênh hoặc nhìn thấy). Tôi thường đối chiếu cái mà tôi nhận được bằng bức tranh tượng trưng trong tâm trí tôi, bằng khái niệm hoặc bằng lời phán bảo trực tiếp với cái mà tôi nhìn thấy trong trường năng lượng. Chẳng hạn, trong một trường hợp, tôi nghe nói trực tiếp “cô ấy bị ung thư”. Và tôi thấy một đốm đen trong trường năng lượng của chị bệnh nhân đó. Đốm đen nầy phù hợp về kích thước, hình thù và vị trí với kết quả chụp CAT scanner tiến hành sau đó. Cách kết hợp nhận thông tin bằng tri giác cao cấp trở nên rất có kết quả, và tôi đạt được độ chính xác cao trong bất cứ miêu tả đặc biệt nào về tình hình bệnh nhân. Tôi cũng nhận được thông tin dưới dạng những hành động tự cứu mà bệnh nhân sẽ sử dụng trong suốt quá trình chữa trị. Quá trình nầy thường đòi hỏi một loạt buổi chữa kéo dài ttong một vài tuần hoặc một vài tháng, tùy theo mức độ bệnh tật. Quá trình chữa trị bao gồm việc tái cân bằng trường năng lượng, thay đổi tập quán sống và xử lý chấn thương khởi đầu.
Điều cốt yếu là xử lý, ý nghĩa sâu xa của bệnh tật. Ta cần phải hỏi: Bệnh nầy có ý nghĩa gì đối với ta? Ta có thể học được điều gì từ bệnh nầy? Có thể nhìn thấy bệnh tật một cách đơn giản như lời phán bảo từ thân thể của bạn nói với bạn. Chờ một chút: có cái gì sai đây? Bạn không lắng nghe toàn thể bản thân mình: bạn quên mất điều gì rất quan trọng đối với bạn. Cái gì vậy? Nguồn gốc của bệnh tật cần được tìm tòi bằng cách nầy, hoặc ở mức độ tâm lý hay cảm giác, ở mức độ hiểu biết, hoặc đơn giản bằng sự thay đổi trong trạng thái tồn tại có thể là vô thức của con người.
Việc trở lại sức khỏe bình thường đòi hỏi cá nhân phải hành động và thay đổi nhiều hơn là chỉ đơn gian uống những viên thuốc theo đơn bác sĩ. Nếu không có thay đổi của bản thân, cuối cùng bạn sẽ không thể tạo ra một vấn đề khác để dẫn dắt bạn trở về với nguồn gốc đã gây nên bệnh tật trước tiên. Tôi thấy rằng nguồn gốc là chìa khoá.
Xử lý nguồn gốc thường đòi hỏi thay đổi cách sống, cuối cùng sẽ dẫn dắt đời sống cá thể đến chỗ liên kết chặt chẽ hơn với cốt lõi của con người. Nó dẫn dắt ta đến phần sâu xa hơn của bản thân ta, phần nầy đôi khi được gọi là bản ngã cao cấp hoặc tia sáng của siêu phàm bên trong.


Barbara Ann Brennan
BÀN TAY ÁNH SÁNG
Dịch giả : Lê Trọng Bổng

Lời giới thiệu

Nguyên tác: Hands of Light - A Guide to Healing Through the Human Energy Field
Sách hướng dẫn chữa trị qua trường năng lượng của con người.
Đây là kỷ nguyên mới và để lý giải cho câu nói của Shakespeare “Ngày càng có nhiều cái giữa Trời Đất mà con người không biết”. Cuốn sách nầy trao đổi với những ai đang tìm kiếm sự tự hiểu biết về những quá trình thể chất và cảm xúc của mình vượt ra khỏi khuôn khổ của Y học cổ điển.
Cuốn sách tập trung vào nghệ thuật chữa bệnh thông qua những phương pháp vật lý và siêu hình. Cuốn sách mở ra những phạm vi mới để hiểu được tính đồng nhất tâm thể mà lần đầu tiên Wilhelm Reich, Walter Canon, Franz Alexander, Flanders Dunbar, Burr và Northrup cùng nhiều nhà tìm tòi nghiên cứu khác trong lĩnh vực tâm thể học đã từng giới thiệu với chúng ta.
Nội dung cuốn sách giải quyết việc xác định những kinh nghiệm chữa trị và lịch sử các tìm tòi nghiên cứu khoa học về trường năng lượng con người và hào quang. Cuốn sách là tài liệu duy nhất nói về mối liên kết động lực học tâm lý với trường năng lượng con người. Cuốn sách mô tả những thay đổi của trường năng lượng vì nó liên quan đến các chức năng của cá thể.
Phần cuối cuốn sách xác định các nguyên nhân của bệnh tật và những nguyên nhân nầy dựa trên các khái niệm siêu hình với những rối loạn năng lượng của hào quang. Bạn đọc cũng sẽ tìm thấy ở đây mô tả bản chất của chữa trị tâm linh vì nó có liên quan đến thầy chữa à đối tượng chữa.
Cuốn sách được viết từ những trải nghiệm chủ quan của tác giả vốn đã được huấn luyện một cách khoa học thành nhà vật lý và tâm lý trị liệu. Sự phối hợp giữa kiến thức khách quan với những trải nghiệm chủ quan tạo nên một phương pháp độc đáo mở rộng tầm hiểu biết vượt qua giới hạn của kiến thức khách quan.
Đối với những ai vốn có đầu óc mở rộng cho sự tiếp cận như vậy, cuốn sách có những tư liệu vô cùng phong phú cho việc học tập, trải nghiệm và tiến hành thí nghiệm. Với những ai phản đối kịch liệt, tôi muốn khuyên họ hãy mở rộng tâm trí mình vào câu hỏi : “Có khả năng hiện hữu hay không hiện hữu thực trạng mới nầy, nó vượt ra khỏi ranh giới của thực nghiệm khoa học lô-gích và khách quan?”
Tôi hết lòng gửi gắm cuốn sách nầy cho những ai bị kích thích trước mỗi hiện tượng vật lý và siêu hình xảy ra trong đời sống. Cuốn sách là công trình trong nhiều năm nỗ lực quên mình, thể hiện quá trình tiến hoá của nhân cách tác giả và sự phát triển của năng khiếu chữa trị đặc biệt của chị. Bạn đọc sẽ đi vào một lĩnh vực vô cùng hấp dẫn, lắm chuyện diệu kỳ.
Xin có lời khen ngợi chị Brennan về lòng dũng cảm trong việc cung cấp cho thế giới những trải nghiệm chủ quan và khách quan của mình.
Bác sĩ John PIERRAKOS
Viện năng lượng học nồng cốt New York City


LỜI CẢM TẠ

Tôi muốn tạ ơn các thầy học của tôi và tôi xin ghi quý danh các vị theo thứ tự thời gian tôi thụ giáo. Đầu tiên là Tiến sĩ Jim Cox và Bà Ann Bowman đã dạy tôi học thao tác năng lượng sinh học cùng với nhiều vị khác. Tôi trải qua nhiều năm học tập và làm việc với Bác sĩ John Pierrakos mà công trình của ông trong năng lượng học nồng cốt đã tạo nền móng cho công trình chữa trị sau nầy của tôi, cũng có ảnh hưởng rất lớn đối với tôi trong việc huấn luyện tôi liên kết các hiện tượng hào quang mà tôi chứng kiến với thao tác tâm lý động lực học. Xin cám ơn anh nhiều, John. Tôi mãi mãi nhớ ơn chị Eva Pierrakos, người khởi xướng đường lối tâm linh đặc biệt mà tôi thực hành, gọi là đường lối Pathwork. Tôi cũng muốn tạ ơn các thầy giáo đã dạy tôi chữa trị, Đức C.B và Đức Rosaly Bruyere. Tôi cũng rất muốn cảm ơn tất cả các sinh viên đến học với tôi và đã trở thành những thầy dạy tuyệt vời của tôi.
Riêng đối với cuốn sách nầy, tôi cảm ơn tất cả các bạn bè đã giúp đỡ cho về bản thảo, và đặc biệt Bà Marjorie Bair về những nhận xét công tác thu thập và xuất bản; Tiến sĩ Jac Conaway về việc sử dụng máy vi tính của ông, và Maria Adeshian về việc đánh máy. Tôi cũng rất muốn cám ơn Bruce Austin về việc tu chỉnh từ ngữ lần cuối. Tôi rất biết ơn Bà Marilee Talman về sự giúp đỡ vô giá trong việc in ấn và hướng dẫn toàn bộ quá trình sản xuất cuốn sách. Tôi biết ơn về sự ủng hộ liên tục của Eli Wilner, của con gái tôi, cô Celia Conaway và bạn thân của tôi, Bà Moira Shaw, người vẫn nhắc nhở tôi về giá trị của mình mỗi khi tôi cần đến nhất.
Và hơn tất cả, tôi muốn tạ ơn các thầy dạy tâm linh thân thiết đã dìu dắt tôi từng bước trên đường đi và đã qua tôi mà giải bày phần lớn sự thật nằm trong cuốn sách nầy.

ĐÔI ĐIỀU VỀ TÁC GIẢ

Barbara Brennan là nhà chữa trị thực hành, nhà tâm lý trị liệu và nhà khoa học. Bà là chuyên viên khoa học Trung tâm phi hành thuộc cơ quan hàng không vũ trụ Hoa Kỳ NASA.
Sau khi tốt nghiệp cao học Vật lý lưu uyển tại Trường đại học tổng hợp Wisconsin. Trong mười lăm năm qua, bà đã tiến hành nghiên cứu và hoạt động trong lĩnh vực trường năng lượng con người và tích cực tham gia chương trình nghiên cứu của Trường đại học tổng hợp Drexel và Viện Thời Đại mới. Bà đã được huấn luyện về Chữa bệnh bằng năng lượng sinh học tại Viện Tổng hợp tâm vật lý, Cộng đồng con người tổng thể, và về Năng lượng học nồng cốt tại Viện Thời đại mới. Bà đã học với cả các nhà chữa trị Mỹ lẫn các nhà chữa trị thổ dân ở đây.
Hiện nay Barbara đang dạy nhiều lớp và tổ chức các hội thảo về Trường năng lượng con người. Chữa trị và Điều hòa chân khí (Channeling). Bà đã tổ chức các hội thảo tại nhiều vùng ở Hoa Kỳ, Canada và Châu Âu. Bà chủ trì một cơ sở thực hành tư nhân tại New York City và East Hamptom, New York, Barbara là thành viên của Cộng đồng Pathwork, Phoenicia, New York.

Người nước ngoài nhìn ta:
Theo kết quả nghiên cứu của  American Institute of Social
1.     Cần cù lao động song dễ thỏa mãn nên tâm lý hưởng thụ còn nặng.
2.     Thông minh, sáng tạo, song chỉ có tính chất đối phó, thiếu tầm tư duy dài hạn, chủ động.
3.     Khéo léo, song không duy trì đến cùng (ít quan tâm đến sự hoàn thiện cuối cùng của sản phẩm).
4.     Vừa thực tế, vừa mơ mộng, song lại không có ý thức nâng lên thành lý luận.
5.     Ham học hỏi, có khả năng tiếp thu nhanh, song ít khi học “đến đầu đến đuôi” nên kiến thức không hệ thống, mất cơ bản. Ngoài ra, học tập không phải là mục tiêu tự thân của mỗi người Việt Nam (nhỏ học vì gia đình, lớn lên học vì sĩ diện, vì kiếm công ăn việc làm, ít vì chí khí, đam mê)
6.     Xởi lởi, chiều khách, song không bền.
7.     Tiết kiệm, song nhiều khi hoang phí vì những mục tiêu vô bổ (sĩ diện, khoe khoang, thích hơn đời).
8.     Có tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, song hầu như chỉ trong những hoàn cảnh, trường hợp khó khăn, bần hàn. Còn trong điều kiện sống tốt hơn, giàu có hơn thì tinh thần này rất ít xuất hiện.
9.     Yêu hòa bình, nhẫn nhịn, song nhiều khi lại hiếu chiến, hiếu thắng vì những lý do tự ái, lặt vặt, đánh mất đại cục.
10.                        Thích tụ tập, nhưng lại thiếu tính liên kết để tạo ra sức mạnh (Cùng một việc, một người làm thì tốt, ba người làm thì kém, bảy người làm thì hỏng)
Tự ta đánh giá chúng ta:
1.     “Giờ cao su”: Nhìn chung, ý thức giờ giấc của người Việt Nam rất kém. Nhiều bạn đi du học ở các nước phát triển lúc đầu rất hay bị bỡ ngỡ. Họ dễ bị trễ tàu, lỗi hẹn nhưng dần dần họ cũng khắc phục được. Ðến khi về nước họ lại khó chịu với “giờ cao su” của chúng ta.
2.     Thiếu tự tin và óc phê phán: Ðây cũng là nhược điểm của văn hoá phương Ðông có lối sống khép kín. Nhiều bạn sinh viên năm thứ ba, thứ tư Ðại học mà vẫn ngại phát biểu ý kiến hoặc trình bày vấn đề trước đám đông vì thiếu tự tin, thiếu thói quen suy nghĩ, đi học chỉ biết “chép chính tả”. Kiểu giáo dục thụ động luôn tỉ lệ thuận với sức ì của tư duy và tỉ lệ nghịch với óc phê phán (critical thinking) của thanh niên.
3.     Bệnh hình thức: Có bạn trong cơ quan hay công ty mình làm việc đang chẳng đâu vào đâu thì lại đi học master. Có bạn tốt nghiệp rồi mà chưa tìm được việc làm cũng đi học master. Tư duy nặng về “điểm chác”, bằng cấp rất phổ biến. Không xác định tư tưởng học để làm việc mà học để lấy bằng. Người Mỹ có quan điểm: to learn is to change. Còn chúng ta ra sức theo học rất nhiều lớp học nhưng rốt cuộc cách làm việc không thay đổi gì cả, điều khác là chúng ta có thêm mấy cái bằng bổ sung vào hồ sơ cá nhân.
4.     Không tiết kiệm: hay tâm lí thích tiêu xài phung phí. Ðây là virus đang rất phổ biến và rất dễ lây lan trong giới trẻ. Họ quan tâm đặc biệt đến quảng cáo, thích xem các loại tem nhãn quần áo, nhận xét, đánh giá người khác qua tài sản, thấy thèm muốn, thán phục nếu ai đó có nhiều quần áo, xe, điện thoại, nhà…”xịn” hoặc tiêu xài sang hơn mình. Chúng ta đang tiêu dùng nhiều hơn chúng ta kiếm được.
5.     Thiếu trách nhiệm cá nhân, thừa trách nhiệm tập thể: Nói chung trong những người bình thường, chúng ta thường hay đùn đẩy trách nhiệm, bất kỳ việc gì chuyển được sang cho người khác cũng đều thấy nhẹ cả người. Khi xảy ra sai phạm đó sẽ là lỗi chung của cả tập thể chứ không của riêng cá nhân nào.
6.     Thể lực kém: xuất phát từ nhiều nguyên nhân như chế độ dinh dưỡng, chương trình học quá tải, học lệch, tâm lí lười vận động… Và hậu quả là khi làm việc với các đồng nghiệp nước ngoài, mặc dù rất cố gắng nhưng người Việt trẻ vẫn rất hay bị hụt hơi và cảm thấy khó có thể theo được cường độ làm việc của họ.
7.     Thiếu thực tế: Ông Kim Woo Choong - Chủ tịch Công ty Deawoo viết: “tuổi trẻ không có ước mơ thì không phải là tuổi trẻ… lịch sử thuộc về những người biết ước mơ”. Nhưng đó là những ước mơ hoàn toàn có thể trở thành hiện thực. Chúng ta thường hay suy nghĩ viển vông, thiếu suy nghĩ thực tế và chưa có suy nghĩ học là để làm việc.
8.     Tinh thần hợp tác làm việc theo team work còn hạn chế. Thế kỷ 21 là thế kỷ làm việc theo nhóm vì tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội ngay cả văn học và nghệ thuật, một cá nhân cũng không thể đảm đương được.
9.     Tác phong công nghiệp: Ðây là điểm rất quan trọng, có thể bao hàm một vài điểm đã nêu trước. Một nhà xã hội học Mỹ nói về nguồn gốc của cách làm việc tiểu nông như sau: “Anh nông dân sau khi gieo lúa xong có thể nhậu lai rai, ngủ dài dài và chờ đến thời điểm nhổ cỏ, bón phân mới làm tiếp. Mà việc này có làm muộn vài ngày cũng chẳng sao, không ảnh hưởng gì đến hoà bình thế giới. Nhưng một người công nhân đứng máy luôn luôn phải đúng giờ, có thao tác chính xác tuyệt đối và tinh thần kỷ luật cao. Một sơ suất nhỏ cũng có thể gây tác hại đến cả dây chuyền.”
Theo chungta.com



Trên núi có một con lừa ngốc, chết rồi vẫn không biết vì sao mình chết, một câu chuyện ý nghĩa mà bất kì ông chủ nào cũng có thể truyền cho nhân viên đọc để bản thân hiểu hơn về giá trị con người.
Một ngôi chùa trên núi có nuôi một con lừa, mỗi ngày nó đều ở trong phòng xay thóc lúa vất vả cực nhọc kéo cối xay, thời gian lâu dần, lừa ta bắt đầu chán ghét cuộc sống vô vị này. Mỗi ngày nó đều trầm tư,“nếu như có thể ra ngoài xem xem thế giới bên ngoài, không cần kéo cối xay nữa, như thế thật là tốt biết mấy!”
Không lâu sau, cơ hội cuối cùng đã đến, vị tăng nhân trong chùa muốn dẫn lừa ta xuống núi để thồ hàng, lòng nó hứng khởi mãi không thôi.
Đến dưới chân núi, vị tăng nhân đem món hàng đặt lên lưng nó, sau đó trở về ngôi chùa. Thật không ngờ, khi những người đi đường trông thấy lừa ta, ai nấy cũng đều quỳ mọp ở hai bên đường cung kính bái lạy.
Lúc bắt đầu, lừa ta không hiểu gì cả, không biết tại sao mọi người lại muốn dập đầu bái lạy nó, liền hoảng sợ tránh né. Tuy nhiên, suốt dọc đường đều như vậy cả, lừa ta bất giác hiu hiu tự đắc hẳn lên, lòng thầm nghĩ thì ra mọi người sùng bái ta đến thế. Mỗi khi nhìn thấy có người qua đường thì con lừa lập tức sẽ nghênh ngang kiêu ngạo đứng ngay giữa đường phố, yên dạ yên lòng nhận sự bái lạy của mọi người.
Về đến chùa, lừa ta cho rằng bản thân mình thân phận cao quý, dứt khoát không chịu kéo cối xay nữa.
Vị tăng nhân hết cách, đành phải thả nó xuống núi.
Lừa ta vừa mới xuống núi, xa xa đã nhìn thấy một nhóm người đánh trống khua chiêng đang đi về phía mình, lòng nghĩ, nhất định mọi người đến để nghênh đón mình đây mà, thế là nghênh ngang đứng ngay giữa đường lộ.
Thực ra, đó là đoàn người rước dâu, đang đi lại bị một con lừa chắn ngang đường, người nào người nấy đều rất tức giận, gậy gộc tới tấp…Lừa ta vội vàng hoảng hốt chạy về chùa, khi về đến nơi thì cũng chỉ còn lại chút hơi tàn. Trước khi chết, nó căm phẫn nói với vị tăng nhân rằng: “Thì ra lòng người hiểm ác đến thế, lần đầu khi xuống núi, mọi người đều đảnh lễ bái lạy ta, nhưng hôm nay họ lại ra tay tàn độc với ta đến thế”, nói xong liền tắt thở.
Vị tăng nhân thở dài một tiếng: “Thật đúng là một con lừa ngu ngốc! Hôm đó, thứ mà mọi người bái lạy chính là bức tượng Phật được ngươi cõng trên lưng mà thôi”.
Cảm ngộ:
Điều bất hạnh lớn nhất trong đời người, chính là cả một đời mà không nhận thức được bản thân mình.
Đôi khi chúng ta là chính mình, nhưng cũng có những lúc ta đánh mất bản thân, có những lúc để nhận thức được bản thân còn khó hơn cả việc nhận thức được thế giới chung quanh. Mỗi ngày chúng ta đều soi gương, nhưng khi soi gương, có ai từng hỏi bản thân mình một câu rằng: “Bạn đã nhận thức được chính mình chưa?”
Nếu như bạn có tiền tài, điều người ta sùng bái chẳng qua là tiền tài của bạn, chứ không phải chính bản thân bạn, nhưng bạn lại ôm ảo vọng rằng họ đang sùng bái mình.
Nếu như bạn có danh vọng, điều người ta tôn kính chẳng qua là danh vọng của bạn, chứ không phải chính bạn, nhưng bạn lại lầm tưởng rằng người khác đang tôn kính mình.
Nếu như bạn có dung mạo đẹp đẽ, điều người ta mến mộ chẳng qua chỉ là dung mạo đẹp đẽ mà tạm thời bạn đang có, chứ không phải chính bạn, nhưng bạn lại hoang đường cho rằng người khác đang ngưỡng mộ chính bản thân mình.
Khi tiền tài, danh lợi, vẻ đẹp của bạn không còn nữa, thì cũng là lúc bạn bị vứt bỏ…có bao giờ bạn nghĩ đến điều ấy chưa…?
Điều mà người khác tôn sùng chẳng qua chỉ là những ước muốn trong tâm, chứ không phải là chính bạn.
Giá trị một con người xuất phát từ nội tâm chứ không phải những thứ bề ngoài, lao tâm khổ sở vì nó thật là điều bất hạnh nhất trên đời.
Vậy nên nhìn rõ chính mình là điều vô cùng quan trọng và cần thiết vậy!
Tác giả: Theo Ntdtv | Dịch giả: Tiểu Thiện
Nguồn: vietdaikynguyenvn



Người Việt Nam hay có kiểu “từ bụng ta suy ra bụng người”. Nếp nghĩ đơn giản ấy thành tập quán và để lại nhiều cái dở trong văn hóa của người Việt. Đây như là kiểu nghĩ “chắc là”, “đoán già đoán non” về một người dựa trên sự trải nghiệm cá nhân hơn là những quan điểm logic về nhân sinh quan.
Phương Tây có lẽ đã chi tiết hóa về tính cách của con người hơn phương Đông rất nhiều. Các mô hình nghiên cứu về tâm lý học của phương Tây, nghiên cứu về tính cách trong chiêm tinh học cho thấy sự đa dạng về tính cách của con người. Chiêm tinh đề cao việc xem dự đoán tính cách con người qua dấu hiệu cung mặt trời (Sun Sign) và cung mọc AC (Ascendant). Việc xem tính cách của con người qua Sun Sign, AC cho thấy tương đối chính xác. Tổ hợp của Sun Sign, AC đã cho thấy có đến 12x12 = 144 tổ hợp tính cách khác nhau.

Chiêm tinh chia tính cách con người ra thành 4 nhóm hành (Hỏa, Thổ, Khí, Thủy) khác với phương Đông chia thành ngũ hành. Chiêm tinh chia mỗi hành ra thành các cung đặc trưng cho nhóm lãnh đạo (thuộc tính cách thích chỉ huy, lãnh đạo và dẫn dắt), nhóm kiên định (thuộc tính cách bền vững, bảo thủ và cố chấp) và nhóm biến đổi (thuộc tính cách biến động, dễ dàng thỏa hiệp và dễ thích nghi). Vì thế các bạn đừng ngạc nhiên những người thân xung quanh mình, người bạn của mình lại có sự ương ổi, hoặc sự thay đổi hoặc tính cách nào đó lại khác mình như vậy.
Phương Đông xem xét con người theo 5 yếu tố ngũ hành (xem theo tứ trụ). Mộc nhiều chủ về nhân từ, Hỏa nhiều chủ về người quan tâm đến lễ nghĩa, Thổ nhiều chủ về người tính tình chắc chắn, Kim nhiều chủ về người nghĩa khí, Thủy nhiều chủ về người mưu lược. Phương pháp xem theo tứ trụ còn xem xét tính cách theo cách tìm dụng thần, xem xét theo các sao thần sát cùng với mức độ vượng suy, vì thế cách xem tính cách của tứ trụ tương đối phức tạp vì còn cần phải qua một quá trình tính toán, cân đo trung gian nữa.
Phương Đông còn xem xét tính cách con người qua các ngôi sao trong chòm sao Tử vi bao gồm 14 chính tinh thuộc hệ bắc đẩu và nam đẩu, đầy đủ âm dương ngũ hành và về cơ bản hình thành 144 cách cục chính. Công bằng mà nói việc viết về tính cách của các chính tinh trong tử vi không được đầy đủ và chi tiết như trong chiêm tinh, tính phân biệt về tính cách giữa các ngôi sao cũng không được rõ ràng như trong chiêm tinh học phương Tây, việc phân định được chi tiết và rõ ràng tính cách qua tử vi đòi hỏi trình độ người xem khá nhiều.
Có thể việc kết hợp cả xem tính cách con người theo phương pháp chiêm tinh phương Tây và phương Đông sẽ góp phần phân định rõ ràng sự khác nhau về xu hướng tính cách của một cá nhân hơn rất nhiều. Nếu đơn giản lấy tổ hợp của chiêm tinh và tử vi, chúng ta thấy đã hình thành nên 144x144 tổ hợp tính cách xem theo cả 02 phương pháp Đông và Tây. Vậy rõ ràng, con người về cơ bản là quá khác xa nhau.
Trong bài tiếp theo Ad sẽ viết về xu hướng thay đổi tính cách con người sẽ thay đổi như thế nào?
Biên soạn: Lão Nông

Tham khảo: Choichiemtinh.net và tài liệu khác

Văn hoá giao tiếp là gì?
Tìm ra một định nghĩa minh bạch cho một khái niệm thuộc lĩnh vực khoa học xã hội & nhân văn quả là rất khó. Ở đây chỉ có thể đưa ra cái gọi là định nghĩa ấy thay bằng quan niệm của mỗi người. Văn hóa giao tiếp là một bộ phận trong tổng thể văn hóa nhằm chỉ quan hệ giao tiếp có văn hóa của mỗi người trong xã hội (giao tiếp một cách lịch sự, thái độ thân thiện, cởi mở, chân thành, thể hiện sự tôn trọng nhau), là tổ hợp của các thành tố: lời nói, cử chỉ, hành vi, thái độ, cách ứng xử…

Đặc trưng giao tiếp cơ bản của người Việt Nam
1. Xét về thái độ đối với việc giao tiếp, có thể thấy đặc điểm của người Việt Nam là vừa thích giao tiếp, lại vừa rất rụt rè.
Người Việt Nam xuất phát điểm từ nền sản xuất nông nghiệp, sống phụ thuộc lẫn nhau vì thế rất coi trọng việc giữ gìn các mối quan hệ tốt với mọi thành viên trong cộng đồng, chính tính cộng đồng này là nguyên nhân khiến người Việt Nam đặc biệt coi trọng việc giao tiếp, và do vậy rất thích giao tiếp. Việc thích giao tiếp này thể hiện chủ yếu ở hai đặc điểm:
- Từ góc độ của chủ thể giao tiếp thì người Việt Nam có tính thích thăm viếng. Đã thân nhau, thì cho dù hàng ngày có gặp nhau bao nhiêu lần chăng nữa, lúc rảnh rỗi họ vẫn tới thăm nhau. Thăm viếng không còn là nhu cầu công việc (như ở phương Tây) mà là biểu hiện của tình cảm, tình nghĩa, có tác dụng thắt chặt thêm quan hệ.
- Với đối tượng giao tiếp thì người Việt Nam có tính hiếu khách. Có khách đến nhà, dù quen hay lạ, thân hay sơ, người Việt dù nghèo khó đến đâu cũng cố gắng tiếp đón chu đáo và tiếp đãi thịnh tình, dành cho khách các tiện nghi tốt nhất, đồ ăn ngon nhất: Khách đến nhà chẳng gà thì gỏi, bởi lẽ đói năm, không bằng đói bữa. Tính hiếu khách này càng tăng lên khi ta về những miền quê hẻo lánh, những miền rừng núi xa xôi.
Đồng thời với việc thích giao tiếp, người Việt Nam lại có đặc tính hầu như ngược lại là rất rụt rè – điều mà những người quan sát nước ngoài rất hay nhắc đến. Sự tồn tại đồng thời của hai tính cách trái ngược nhau (thích giao tiếp và rụt rè) này bắt nguồn từ hai đặc tính cơ bản của làng xã Việt Nam là tính cộng đồng và tính tự trị. Khi đang ở trong phạm vi của cộng đồng quen thuộc, nơi tính cộng đồng ngự trị thì người Việt Nam sẽ tỏ ra xởi lởi, thích giao tiếp. Còn khi ở ngoài cộng đồng, trước những người lạ, nơi tính tự trị phát huy tác dụng thì người Việt Nam sẽ tỏ ra rụt rè. Hai tính cách tưởng như trái ngược nhau ấy ko hề mâu thuẫn với nhau vì chúng bộc lộ trong những môi trường khác nhau, chúng chính là hai mặt của cùng một bản chất, là biểu hiện cho cách ứng xử linh hoạt của người Việt Nam.
2. Đặc điểm trọng tình nghĩa ghi dấu trong văn hoá giao tiếp của người Việt
Xét về quan hệ giao tiếp, văn hóa nông nghiệp với đặc điểm trọng tình đã dẫn người Việt Nam tới chỗ lấy tình cảm làm nguyên tắc ứng xử: Yêu nhau yêu cả đường đi/ ghét nhau ghét cả tông ti họ hàng; Yêu nhau cau sáu bổ ba/ ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười; Yêu nhau chín bỏ làm mười; Yêu nhau củ ấu cũng tròn/ ghét nhau quả bồ hòn cũng méo; Yêu nhau mọi việc chẳng nề/một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng…
Nếu nói khái quát, người Việt Nam lấy sự hài hòa âm dương làm trọng nhưng vẫn thiên về âm hơn, thì trong cuộc sống, người Việt Nam sống có lý có tình nhưng vẫn thiên về tình hơn: Một bồ cái lý không bằng một tý cái tình. Người Việt Nam luôn coi trọng tình cảm hơn mọi thứ trên đời. Ai nhớ mình một chút đều phải nhớ ơn, ai bảo ban một chút cũng phải tôn làm thầy – khái niệm “thầy” được mở ra rất rộng: thầy đồ, thầy võ, thầy thuốc, thầy bói, thầy cúng, thầy địa lý, thầy phù thủy…
3. Với đối tượng giao tiếp, người Việt Nam có thể quen ưa tìm hiểu, quan sát, đánh giá…
Tuổi tác, quê quán, trình độ học vấn, địa vị xã hội, tình trạng gia đình (bố mẹ còn hay mất, đã có vợ/ chồng chưa, có con chưa, mấy trai mấy gái…) là những vấn đề người Việt Nam thường quan tâm. Thói quen ưa tìm hiểu này khiến cho người nước ngoài có nhận xét là người Việt Nam hay tò mò. Đặc tính này – dù gọi bằng tên gì đi nữa – chẳng qua cũng chỉ là một sản phẩm của tính cộng đồng làng xã mà ra.
Do tính cộng đồng, người Việt Nam tự thấy có trách nhiệm phải quan tâm đến người khác, mà muốn quan tâm thì phải biết rõ hoàn cảnh. Mặt khác, do lối sống trọng tình cảm, mỗi cặp giao tiếp đều có những cách xưng hô riêng, nên nếu không có đủ thông tin thì không thể lựa chọn từ xưng hô cho thích hợp được. Biết tính cách, biết người để lựa chọn từ xưng hô cho phù hợp: Chọn mặt gửi vàng; Tùy mặt gửi lời/tùy người gửi của. Khi không được lựa chọn thì người Việt Nam dùng chiến lược thích ứng một cách linh hoạt: Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài; Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy.
4. Tính cộng đồng trong văn hoá giao tiếp của người Việt
Tính cộng đồng còn khiến người Việt Nam, dưới góc độ chủ thể giao tiếp, có đặc điểm là trọng danh dự: Tốt danh hơn lành áo; Đói cho sạch, rách cho thơm; Trâu chết để da, người ta chết để tiếng. Danh dự gắn với năng lực giao tiếp: Lời hay nói ra để lại dấu vết, tạo thành tiếng tăm; lời dở truyền đến tai nhiều người, tạo nên tai tiếng
Chính vì quá coi trọng danh dự nên người Việt Nam mắc bệnh sĩ diện: Ở đời muôn sự của chung, hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi; Đem chuông đi đấm nước người, không kêu cũng đánh ba hồi lấy danh; Một quan tiền công không bằng một đồng tiền thưởng. Ở làng quê, thói sỹ diện thể hiện trầm trọng qua tục lệ ngôi thứ nơi đình trung và tục chia phần. Do danh dự (sỹ diện), các cụ già vẫn có thể to tiếng nhau vì miếng ăn: Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp. Lối sống trọng danh dự dẫn đến cơ chế tạo tin đồn, tạo nên dư luận như một thứ vũ khí lợi hại bậc nhất của cộng đồng để duy trì sự ổn định của làng xã.
5. Về cách thức giao tiếp, người Việt Nam ưa sự tế nhị, ý tứ và trọng sự hòa thuận
Tính tế nhị khiến cho người Việt Nam có thói quen giao tiếp “vòng vo tam quốc”, không bao giờ mở đầu tực tiếp, đi thẳng vào đề như người phương Tây. Truyền thống Việt Nam khi bắt đầu giao tiếp là phải xấn xá cầu điền, hỏi thăm nhà cửa ruộng vườn. Cũng để đưa đẩy tạo không khí là truyền thống miếng trầu là đầu câu chuyện. Với thời gian, chức năng “mở đầu câu chuyện” này của “miếng trầu” được thay thế bởi chén trà, điều thuốc lá…
Lối giao tiếp ưa tế nhị, ý tứ là sản phẩm của lối sống trọng tình và lối tư duy trong các mối quan hệ. Nó tạo nên thói quen đắn đo cân nhắc kỹ càng khi nói năng: Ăn có nhai, nói có nghĩ; Chó ba quanh mới nằm, người ba năm mới nói; Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe; Người khôn ăn nói nửa chừng, để cho người dại nửa mừng nửa lo… Chính sự đắn đo cân nhắc này khiến cho người Việt Nam có nhược điểm là thiếu tính quyết đoán, nhưng đồng thời giữ được sự hòa thuận, không làm mất lòng ai.
Người Việt Nam rất hay cười, nụ cười là một bộ phận quan trọng trong thói quen giao tiếp của người Việt; người ta có thể gặp nụ cười Việt Nam vào cả lúc ít chờ đợi nhất. Tâm lý ưa hòa thuận khiến người Việt Nam luôn chủ trương nhường nhịn: Một sự nhịn là chín sự lành; Chồng giận thì vợ bớt lời, cơm sôi nhỏ lửa có đời nào khê…
6. Người Việt có hệ thống nghi thức lời nói rất phong phú
Trước hết, đó là sự phong phú của hệ thống xưng hô: trong khi các ngôn ngữ phương Tây và Trung Hoa chỉ sử dụng các đại từ nhân xưng thì tiếng Việt còn sử dụng một số lượng lớn các danh từ chỉ quan hệ họ hàng để xưng hô, và những danh từ thân tộc này có xu hướng lấn át các đại từ nhân xưng. Hệ thống xưng hô này có các đặc điểm:
- Thứ nhất, có tính chất thân mật hóa (trọng tình cảm), coi mọi người trong cộng đồng như bà con họ hàng trong một gia đình.
- Thứ hai, có tính chất cộng đồng hóa cao – trong hệ thống này không có những từ xưng hô chung mà phụ thuộc vào tuổi tác, địa vị xã hội, thời gian, không gian giao tiếp cụ thể: chú khi ni, mi khi khác. Cùng là hai người, cách xưng hô có khi thể hiện được hai quan hệ khác nhau: chú-con, ông-con, bác-em, anh-tôi… Lối gọi nhau bằng tên con, tên cháu, tên chồng; bằng thứ tự sinh (Cả, Hai, Ba, Tư…)
- Thứ ba, thể hiện tính tôn ti kỹ kưỡng: người Việt Nam xưng và hô theo nguyên tắc xưng khiêm hô tôn (gọi mình thì khiêm nhường, còn gọi đối tượng giao tiếp thì tôn kính). Cùng một cặp giao tiếp, nhưng có khi cả hai cùng xưng là em và cùng gọi nhau là chị. Việc tôn trọng, đề cao nhau dẫn đến tục kiêng tên riêng: xưa kia chỉ gọi đến tên riêng khi chửi nhau; đặt tên con cần nhất là không được trùng tên của những người bề trên trong gia đình, gia tộc cũng như ngoài xã hội. Vì vậy mà người Việt Nam trước đây có tục nhập gia vấn húy (vào nhà ai phải hỏi tên chủ nhà để khi nói nếu có động đến từ đó thì phải nói chệch đi).
Nghi thức trong cách nói lịch sự cũng rất phong phú. Do truyền thống tình cảm và linh hoạt nên người Việt Nam không có một từ cảm ơn, xin lỗi chung chung cho mọi trường hợp như phương Tây. Với mỗi trường hợp có thể có một cách cảm ơn, xin lỗi khác nhau: Con xin chú (cảm ơn khi nhận quà), Chị chu đáo quá (cảm ơn khi được quan tâm), Bác bày vẽ quá (cảm ơn khi được đón1 tiếp), Quý hóa quá (cảm ơn khi khách đến thăm), Anh quá khen (cảm ơn khi được khen), Cháu được như hôm nay là nhờ cô đấy (cảm ơn khi được giúp đỡ)…
Văn hóa nông nghiệp ưa ổn định, sống chú trọng đến không gian nên người Việt Nam phân biệt kỹ các lời chào theo quan hệ xã hội và theo sắc thái tình cảm. Trong khi đó văn hóa phương Tây ưa hoạt động lại phân biệt kỹ các lời chào theo thời gian như chào gặp mặt, chào chia tay, chào buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều, buổi tối…
Trong quá trình phát triển và du nhập văn hóa của phương Tây, những đặc trưng và hạn chế trong giao tiếp của người Việt dần dà đã được thay đổi và cải tiến hơn, phù hợp hơn với thong lệ giao tiếp quốc tế.

Theo Sách Cơ sở Văn hóa Việt Nam (Trần Ngọc Thêm)

MKRdezign

{facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google-plus#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget