Latest Post
10 đặc điểm tính cách của người Việt Nam 13 đặc điểm chứng tỏ bạn đã tu từ kiếp trước nên nhất định có phúc báo 18 bí quyết để có được vận mệnh tốt 64 Quẻ Dịch 7 kiểu người sẽ nhận được phúc báo và gặp nhiều quý nhân 8 quẻ cung Chấn 8 quẻ cung Càn 8 quẻ cung Cấn 8 quẻ cung Khôn 8 quẻ cung Khảm 8 quẻ cung Ly 8 quẻ cung Tốn 8 quẻ cung Đoài 9 điều dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma An lục thân cho 64 quẻ dịch Bài học thành công Bàn tay Ánh sáng: Chương 1 Trải nghiệm chữa trị Bàn tay Ánh sáng: Chương 2 Cách sử dụng cuốn sách Bàn tay Ánh sáng: Chương 3 Ghi ghép về rèn luyện và phát triển việc hướng dẫn Bàn tay Ánh sáng: Lời giới thiệu Bàn tay Ánh sáng: Phần II Hào quang con người Bàn tay ánh sáng: Chương 10A Chẩn đoán luân xa hay chẩn đoán trung tâm năng lượng Bàn tay ánh sáng: Chương 10B Bàn tay ánh sáng: Chương 11 Quan sát hào quang trong các buổi chữa bệnh Bàn tay ánh sáng: Chương 12 Tắc nghẽn năng lượng và các hệ thống phòng vệ trong hào quang Bàn tay ánh sáng: Chương 13 Hào quang và mô hình luân xa của các cấu trúc đặc tính chủ yếu Bàn tay ánh sáng: Chương 14 Nguyên nhân bệnh tật Bàn tay ánh sáng: Chương 15 Từ tắc nghẽn đến bệnh tật Bàn tay ánh sáng: Chương 16 Quá trình chữa trị một quan điểm tổng quát Bàn tay ánh sáng: Chương 17 Trực tiếp đáo đạt thông tin Bàn tay ánh sáng: Chương 18 Thấu thị Bàn tay ánh sáng: Chương 19 Thính giác cao cấp và việc liên lạc với các thầy dạy tâm linh Bàn tay ánh sáng: Chương 20 Ẩn dụ của Heyoan về thực tại Bàn tay ánh sáng: Chương 22 Chữa trị tổng phổ Bàn tay ánh sáng: Chương 23 Chữa trị bằng màu sắc và âm thanh Bàn tay ánh sáng: Chương 24 Chữa trị các chấn thương xuyên thời gian Bàn tay ánh sáng: Chương 25 Tự chữa trị và thầy chữa tâm linh Bàn tay ánh sáng: Chương 26 Sức khỏe thách thức để trở thành chính mình Bàn tay ánh sáng: Chương 27 Sự phát triển của thầy chữa Bàn tay ánh sáng: Chương 4 So sánh cách nhìn bản thân và thực tại của chúng ta với các quan điểm khoa học phương Tây Bàn tay ánh sáng: Chương 5 Lịch sử nghiên cứu khoa học về trường năng lượng con người Bàn tay ánh sáng: Chương 6 Trường năng lượng vũ trụ Bàn tay ánh sáng: Chương 7A Trường năng lượng con người hay hào quang con người Bàn tay ánh sáng: Chương 7B Bàn tay ánh sáng: Chương 7C Bàn tay ánh sáng: Chương 9 Chức năng tâm lý của bảy luân xa chính Bàn tay ánh sáng: Phần III Chương 8 Các động lực tâm lý và trường năng lượng của con người Bàn tay ánh sáng: Phần V Chương 21 Chữa trị tâm linh Bí quyết thiết thực để cải biến vận mệnh Chuyển hóa sân giận thành yêu thương Chọn hướng xuất hành Con lừa ngốc ngếch đến chết vẫn không hiểu nguyên do Con người về cơ bản là khác nhau Cuốn sách đoán mệnh cổ nhất của Trung Quốc Cách Làm Quan và những sao Qúy Cách bệnh tật và những sao ốm đau Cách gian phi trong tử vi Cách giàu và những sao hữu sản Cách hay ăn hay nhậu Cách hiếm muộn trong khoa tử vi Cách hùng biện và các sao về ăn nói Cách khoa bảng và các sao học vấn Cách nghèo và những sao nghèo Cách nghề nghiệp và những sao bá nghệ Cách ái tình và các sao tình dục Cách đa ngôn và các sao ăn nói Cách đi tu trong lá số tử vi Cách đàn bà đa phu (nhiều chồng) trong tử vi Cách đàn ông sợ vợ trong tử vi Có nên phó mặc cho số phận Cô chấp và khổ đau Giới thiệu về Osho và các tác phẩm của Osho Học cách tu cái miệng Kim Cương Thừa Kim cang thừa một đời người một câu chú Kinh dịch - dự đoán quan vận Kinh dịch - dự đoán tài vận Làm theo phương pháp này của Warren Buffett dù việc có nhiều đến mấy bạn cũng hoàn thành dễ dàng Lý giải mới về nguyên nhân khác biệt văn hóa Đông Tây Lý thuyết dụng thần tứ trụ - Chìa khóa để cải vận Lịch sử khoa tứ trụ Miệng luôn tạo khẩu nghiệp phúc báo sớm muộn cũng chạy mất Mẫu văn khấn năm Bính Thân (2016) Một số bài học thú vị Một số câu chuyện ứng nghiệm Hà Lạc dự báo Một số lời dạy của Đức Đạt lai Lạt mavề Phật giáo Kim cương thừa Người lương thiện không tranh không cãi người tranh cãi không phải người lương thiện Ngẫu nhiên và tất nhiên Những vị trí không nên động thổ trong năm 2016 Năng lực cải vận của số điện thoại Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Báo trước Hai bà và một sư Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Chương I Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Chương II Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Chương III Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Chương IV Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Chương IX Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Chương V Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Chương VI Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Chương VII Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Chương VIII Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Chương X Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Chương XI Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Chương XII Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Chương XIII Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Chương XIV Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Chương XV Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Chương XVI Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Chương XVII Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Lời bạt: Nắm lấy nghịch lí Osho – Tình yêu – Tự do – Một mình Mục lục Phong thủy: Chuyện người xưa chọn đất làm nhà Phong thủy: Nguyên tắc hóa giải ngũ hoàng sát Phật gia giảng ‘cần buông bỏ’ nhưng rốt cuộc là buông bỏ điều gì? Quy luật tính phương vị hỷ thần Sức hấp dẫn của kinh dịch Thần số học - khoa học về dự đoán Tri thức là sức mạnh Triết lý sâu sắc của luận sư Ấn Độ Con người luôn ở trong vòng luẩn quẩn vì 8 mối quan tâm này Trạch cát hay thuật chọn ngày tốt Tính danh học Tính nguyên vận để xem thịnh suy của gia trạch Tất cả chúng ta đều phải “trở về nhà” Tổng quan về ứng dụng thuật phong thủy trong quy hoạch xây dựng và kiến trúc Vài Bí Quyết Tử Vi Ít Người Biết - Tiến Sĩ Đằng Sơn Vài nét về kinh dịch Vài so sánh giữa triết học phương Đông và triết học phương Tây Vì sao những người yêu nhau hãy nên trân trọng nhau Văn hóa giao tiếp của người Việt Nam Vận mệnh con người có thay đổi được không Xem tuổi vợ cho nam sinh năm Bính Thìn Xem tuổi vợ cho nam sinh năm Canh Thân Xem tuổi vợ cho nam sinh năm Giáp Dần Xem tuổi vợ cho nam sinh năm Kỷ Hợi Xem tuổi vợ cho nam sinh năm Kỷ Mùi Xem tuổi vợ cho nam sinh năm Mậu Ngọ Xem tuổi vợ cho nam sinh năm Mậu Tuất Xem tuổi vợ cho nam sinh năm Nhâm Tuất Xem tuổi vợ cho nam sinh năm Quý Hợi Xem tuổi vợ cho nam sinh năm Tân Dậu Xem tuổi vợ cho nam sinh năm Đinh Tị Xem tuổi vợ cho nam sinh năm Ất Mão Y phục xứng kỳ đức chọn ngày khai trương trong năm Đinh Dậu (2017) các sao ăn nhậu ngày khai trương năm Bính Thân (2016) tài thần và hạc thần Ý nghĩa phong thủy và tác dụng của đá Ruby Điển tích về Mai hoa dịch số Đôi điều về bát tự - Hà Lạc Đông Tây giao thoa Đạo Phật và 7 sự hiểu lầm phổ biến vô cùng nguy hiểm Đạo sĩ tu luyện 300 năm trong núi sâu vén mở bí mật về công năng đặc dị Đạo Đức và Luân Lý Đông Tây Đạo đức nghề nghiệp của người làm thầy Đặc Tính Cửu Tinh Trong Huyền Không Phi Tinh “Buông bỏ” là một loại trí tuệ biết buông bỏ mới có được hạnh phúc! “Nhẫn nhường” không phải hèn yếu mà là khí chất của người quân tử

Câu chuyện tầm sư học đạo kỳ lạ của 
KARMA DORDJI(1) 
Alexandra David Neel - Huỳnh Ngọc Chiến dịch

Karma Dordji xuất thân từ một gia đình nghèo hèn. Từ thuở nhỏ ông được cha mẹ gởi vào chùa, và ở đó ông luôn bị đám bạn bè cùng trang lứa thuộc tầng lớp giàu sang chế nhạo, khinh bỉ. Khi ông lớn lên thì đám bạn lại tìm cách xa lánh, không thèm trò chuyện vì xuất thân hạ tiện của ông. Karma Dordji là người kiêu hãnh và có ý chí kiên cường. Ông kể cho tôi nghe rằng ngay từ khi còn bé, ông đã quyết tâm tìm cách vượt lên trên những kẻ đã hạ nhục mình.
Thân phận tu sĩ chỉ dành cho ông một phương tiện duy nhất để đạt đến mục tiêu. Đó là ông phải trở thành một nhà khổ tu vĩ đại, một nhà huyền thuật lỗi lạc có tài hàng ma phục quỷ, và có đi đâu cũng có kẻ hầu người hạ, hậu ủng tiền hô. Có thế ông mới có thể nhìn được cảnh những kẻ thù run sợ như cầy sấy trước mặt mình.
Quyết tâm như vậy, Karma Dordji đến xin vị tăng trụ trì tu viện cho phép ông được nghỉ hai năm, vì ông muốn lui vào rừng sâu để tham thiền. Một tâm nguyện như thế không bao giờ bị từ chối. Dordji bèn leo lên một ngọn núi cao, tìm ra được chỗ thích hợp bên dòng suối và dựng một thảo am. Tiếp theo đó, để học tập các nhà ẩn tu khổ luyện môn viêm công, ông vất bỏ tất cả quần áo và để tóc bù xù. Viêm công hay nhiệt công là pháp môn tập luyện để khơi thông những nguồn chân hỏa trong cơ thể giúp ta chống chọi với giá lạnh mà không cần quần áo. Trong suốt một thời gian dài, rất hiếm khi có người đem lương thực đến, và họ thấy ông luôn trần truồng ngồi bất động, ngay cả trong mùa đông, tựa hồ như đắm chìm trong thiền định.
Người ta bắt đầu bàn tán về Dordji, nhưng ông vẫn chưa được nổi tiếng như mong đợi. Karma Dordji hiểu ra rằng cảnh khổ tu trần truồng của mình không thể giúp ông nổi tiếng. Ông bèn hạ sơn tìm về tu viện, và lần này xin được bỏ xứ ra đi để tìm cho được một gourou nơi khác. Ông lại được toại nguyện.
Cuộc viễn trình của Karma Dordji còn ly kỳ hơn cả Yéchés Gyatzo, bởi vì Yéchés Gyatzo biết rõ mình đi đâu, trong khi Dordji cứ lang thang vô định.
Đi mãi mà vẫn không tìm ra được với sư phụ như ý, Dordji liền dồn hết đức tin vào chư thiên và ma quỷ. Ông thuộc lòng chuyện đạo sư Milaréspa dùng huyền thuật phá sập nhà kẻ thù, và nhớ lại những câu chuyện tương tự về chư thiên “Đại khủng khiếp” đã từng mang những cái đầu đẫm máu bỏ vào giữa đàn tràng kyilkhor(2) do các đạo sĩ huyền thuật dựng lên.
Dordji biết chút ít về nghi thức lập đàn tràng kyilkhor. Ông bèn dựng một đàn tràng bằng đá giữa một ngọn đèo hẹp, rồi cầu nguyện các nữ ác thần hãy đưa ông đến vị sư phụ mà họ đang phụng sự. Đến đêm thứ chín thì có một tiếng sấm nổ vang, rồi một cơn lũ đột ngột dâng lên ngập cả ngọn đèo. Một vòi nước tung cao quét sạch hẽm núi, cuốn Dordji trôi đi cùng với đàn tràng kyilkhor và gói hành lý đi đường. Bị cuốn trôi giữa núi đá, Dordji may mắn đã không bị chết đuối, và cuối cùng ông trôi đến một thung lũng rộng mênh mông. Khi trời sáng, ông thấy trước mắt mình là một tịnh thất (riteu(3)) thấp thoáng sau bức tường đá, nằm cheo leo trên một mỏm núi.
Căn nhà nhỏ đó quét vôi trắng hồng và tỏa sáng lấp lánh dưới ánh mặt trời. Kẻ thoát nạn tin rằng đã thấy một tia nắng thoát ra khỏi khối sáng đó để đến đậu trên mặt mình. Nơi kia hẳn phải chốn ẩn cư của vị sư phụ mà ông đã khổ công tìm kiếm. Chắc chắn trong việc này phải có sự can thiệp của chư thiên để giúp ông hoàn thành tâm nguyện. Trong khi ông muốn vượt lên ngọn đèo để băng qua dãy núi thì các nữ ác thần lại bắt ông trôi xuống dưới thung lũng một cách thô bạo để ông gặp được tịnh thất này.
Tin chắc như thế, Karma Dordji chẳng thèm quan tâm đến cảnh mình đang trần truồng như nhộng, vì quần áo đã bị cơn lũ cuốn nát tả tơi; rồi giống như một vị thần Hérouka(4), ông xăm xăm đi đến tịnh thất kia.
Khi Karma Dordji vừa đến cổng thì có một đệ tử của vị ẩn tu đi ra ngoài múc nước. Gã đệ tử kinh hãi suýt đánh rơi cả thùng nước, khi trông thấy một người lạ đang lù lù xuất hiện trước mặt mình. Khí hậu ở Tây Tạng khác xa khí hậu ở Ấn Độ, và nếu như ở Ấn Độ, những vị ẩn tu lõa thể hoặc bán lõa thể có rất đông và không làm ai kinh ngạc, thì điều đó lại khác hẳn ở những đỉnh núi cao ở “Xứ tuyết” lạnh giá này. Rất ít vị naldjorpa ăn mặc kiểu này, họ đều sống xa những con đường có người qua lại, mà ẩn cư trong những núi sâu, cho nên ít ai thấy được họ.
- Vị nào ẩn cư trong tịnh thất này? – Karma Dordji lên tiếng hỏi.
- Sư phụ tôi, Lạt ma Tobsgyais – chú tiểu đáp.
Karma Dordji không hỏi gì thêm nữa. Ông đã thông báo những gì? Ông đã biết trước cả rồi, các nữ ác thần đã đưa ông đến với vị sư phụ mà ông mong đợi.
- Hãy vào báo với vị Lạt ma rằng Tcheu-Kyong (hộ pháp) đã đem đến cho ngài một tên đệ tử- gã đàn ông trần truồng kia nhấn mạnh từng chữ.
Chú tiểu sau một hồi ngơ ngác liền chạy vào trong để thông báo với thầy. Và vị Lạt ma cho đưa người khách vào.
Karma Dordji quỳ phục dưới chân vị Lạt ma theo nghi thức bái sư, rồi trình bày cho ông ta biết là mình đã được chư thiên đưa đến đây “dưới chân thầy”.
Lạt ma Tobsgyais là một học giả uyên bác. Là con trai của một viên quan Trung Quốc, cưới người vợ Tây Tạng, nên ông có xu hướng thiên về thuyết bất khả tri đáng yêu, giống tổ tiên mình. Có lẽ ông lui về ẩn cư trong sa mạc là vì thích sự cô liêu quý phái và không muốn bị người khác quấy rầy việc học tập nghiên cứu, hơn là vì động cơ nào khác. Ít ra đó cũng là hình ảnh tôi cảm nhận về ông, thông qua những gì Karma Dordji mô tả. Bản thân Karma Dordji cũng được học hỏi từ các tu sĩ phụng sự Lạt ma Tobsgyais, bởi vì như ta sẽ thấy, mối quan hệ giữa Karma Dordji với vị Lạt ma rất là ngắn ngủi.
Chốn ẩn tu của Lạt ma Tobsgyais rất hợp với sự mô tả trong kinh điển: “Đừng quá gần làng mạc, đừng quá xa làng mạc”. Từ cửa sổ nhìn ra, nhà ẩn tu có thể thấy cả một thung lung hoang vắng mênh mông, và khi vượt qua ngọn núi nơi tịnh thất đang tọa lạc, ta sẽ gặp một ngôi làng trên một sườn núi đối diện, cách độ một nửa ngày đàng.
Bên trong tịnh thất bày biện rất đơn sơ, giống như nhiều chỗ ẩn cư khác, nhưng có một tủ sách khổng lồ. Những bức tranh lụa (thangka) xinh đẹp treo hai bên tường cho thấy chủ nhân không nghèo và có am hiểu về nghệ thuật.
Karma Dordji thì thân hình to như hộ pháp, mình trần trùi trụi, mái tóc bờm xờm kết thành bó, còn nối thêm một túm lông bờm bò yak thả dài tới gót, hình ảnh đó thật hoàn toàn tương phản với vị học giả tao nhã mà tôi vừa mô tả.
Karma Dordji liền kể câu chuyện đàn tràng kyilkhor và “phép lạ” của cơn lũ đã đưa mình tới “dưới chân thầy” tại một nơi xa lăng lắc như thế này. Lạt ma Tobsgyais hỏi lý do vì sao kẻ cầu đạo kia lại trần truồng như vậy.
Khi nghe Karma Dordji, bằng giọng tự hào, nói về thần Hérouka và hai năm trần truồng khổ luyện môn viêm công trong rừng, vị Lạt ma chỉ nhìn ông ta một lát, rồi thản nhiên bảo với chú tiểu đứng hầu bên cạnh:
- Hãy đưa kẻ đáng thương này vào nhà bếp, để gã sưởi ấm và cho uống trà thật nóng. Tìm một cái áo da cừu cũ nào đó đưa cho y mặc. Y đã chịu lạnh mấy năm rồi.
Nói xong, ông quay lưng bỏ đi.
Karma Dordji cảm thấy dễ chịu khi khoác tấm áo choàng bằng da, dù đã cũ mèm, và tách trà nóng đầy bơ giúp làm ông sảng khoái sau một đêm trôi trong nước lũ lạnh căm. Nhưng lạc thú vật chất này lại làm hỏng đi công phu hành xác đầy kiêu hãnh của ông. Kẻ đệ tử được chư thiên đưa đến “một cách kỳ diệu” này đã không được vị Lạt ma đón tiếp đúng cách. Sau khi ăn uống phục hồi sức lực, Karma Dordji muốn trình bày để vị Lạt ma ẩn tu biết mình là ai và mình muốn gì ở ông ta. Song Lạt ma Tobsgyais chẳng hề cho ông gặp mặt, và tựa hồ như quên bẵng mất ông đi. Tuy vậy, vị tu sĩ trụ trì vẫn dặn dò chăm sóc ông, bằng chứng là hàng ngày các chú tiểu vẫn lo cơm nước cho ông chu đáo, và chỗ nghỉ ngơi của ông vẫn là bên bếp lửa.
Từng ngày cứ trôi qua, và Dordji mất hết kiên nhẫn. Gian nhà bếp mặc dù dễ chịu thoải mái, nhưng với ông thì nó chẳng khác chi một nhà tù. Ông muốn lao động, muốn được xách nước bửa củi, nhưng các chú tiểu không cho ông làm. Vị Lạt ma đã ra lệnh ông chỉ việc ăn no ngủ ấm, ngoài ra không được làm chi cả.
Dần dần Karma Dordji cảm thấy xấu hổ vì thấy mình bị đối đãi như con chó con mèo trong nhà, người ta nuôi mà không đòi hỏi làm chi cả. Trong những ngày đầu, ông nhiều lần xin các chú tiểu cho ông được bái kiến vị Lạt ma nhưng họ đều từ chối, lấy cớ rằng họ không dám làm kinh động đến sư phụ, và nếu như Hòa thượng (Rimpotché) muốn gặp thì ngài sẽ cho người gọi đến. Bởi vậy, Karma Dordji không dám yêu cầu nữa. Niềm an ủi duy nhất của ông giờ đây là theo dõi khi vị Lạt ma ngồi một mình trước hàng lan can nhỏ ngoài hiên, hoặc chăm chú lắng nghe vị này giảng giải nghĩa kinh cho các môn đồ hay cho khách đến viếng chùa. Ngoài những giây phút học lóm hiếm hoi này, Karma Dordji thấy thời gian trôi qua thật chậm chạp và vô vị, trong khi trong lòng ông lại bừng cháy với khát vọng đã đưa ông đến nơi đây.
Gần một năm như thế trôi qua khiến Karma Dordji rất đỗi muộn phiền. Ông thà tinh tấn chịu đựng mọi thử thách khắc nghiệt nhất, còn hơn là bị vị Lạt ma quên lãng hoàn toàn. Điều đó làm cho ông vô cùng bối rối. Ông đoán rằng có lẽ Lạt ma Tobsgyais dùng huyền lực biết được xuất thân hạ tiện của ông – mặc dù ông đã thú nhận điều đó với ngài - cho nên ngài khinh bỉ ông, để cho ông ăn của bố thí trong chùa vì lòng thương hại. Tư tưởng này cứ gậm nhấm trong đầu, càng ngày càng làm cho ông thêm đau khổ.
Quyết tâm học cho bằng được phép lạ nơi vị Lạt ma mà định mệnh đã đưa ông đến, và tin tưởng rằng đây là vị sư phụ duy nhất trên thế gian, Karma Dordji không hề nghĩ đến chuyện bỏ đi tìm sư phụ khác, nhưng ý định tự tử đôi khi lại thoáng qua đầu.
Khi Karma Dordji gần như đắm chìm trong tuyệt vọng thì nhà chùa lại đón tiếp một vị khách là cháu của Lạt ma trụ trì. Vị khách này là một Lạt ma hóa thân (tulkou), tu viện trưởng một tu viện lớn, đi đâu có đoàn tùy tùng đông đảo theo hầu. Rực rỡ trong tấm áo choàng brocart vàng chói, đầu đội mũ gỗ nhọn lấp lánh như ngôi bảo tháp, vị Lạt ma hóa thân đó cùng đoàn tùy tùng dừng lại dưới chân núi của chốn ẩn cư. Những tấm lều xinh đẹp được dựng lên làm nơi tạm trú. Sau khi dùng trà trong một bình bằng bạc do Tobsgyais sai thị giả đem xuống, vị Lạt ma hóa thân đi lên tịnh thất của chú mình.
Những ngày sau đó, ngạc nhiên khi thấy một người khách lạ khoác cái áo choàng cũ mèm với mái tóc dài bết đất, cứ suốt ngày ngồi bên bếp lửa, vị Lạt ma hóa thân bèn cho gọi Karma Dordji lại hỏi nguyên cớ. Dordji nhân cơ hội này kể lể, trình bày hết nỗi niềm, và mong vị hóa thân tạo cho ông một cơ hội.
Vị Lạt ma hóa thân kia hẳn cũng có óc khôi hài như ông chú nên chẳng hề quan trọng hoá mọi chuyện. Ông chỉ ngạc nhiên nhìn gã hộ pháp trước mặt mình, và hỏi Karma Dordji muốn học hỏi gì ở Lạt ma Tobsgyais.
Cuối cùng thấy cũng có người quan tâm đến chuyện của mình, Karma Dordji lấy lại niềm tin. Ông trả lời là muốn học những phép thuật như bay lượn trên không, hô phong hoán vũ, đảo hải bài sơn, lay trời chuyển đất, nhưng ông cẩn thận giấu kín lý do vì sao mình cần phải đi học những thứ đó.
Chắc chắn vị Lạt ma hóa thân cảm thấy thú vị. Ông hứa sẽ nói lại với người chú, thế nhưng trong suốt hai tuần ở lại thăm chùa, ông ta chẳng hề ngó ngàng gì đến Karma Dordji.
Vị hóa thân từ biệt người chú và cùng đoàn tùy tùng ra đi. Từ tịnh thất nhìn xuống, người ta thấy những kẻ tùy tùng dắt một con tuấn mã, yên cương đều nạm vàng sáng lấp lánh dưới ánh nắng ban mai. Karma Dordji nhìn theo, bụng bảo dạ vị hóa thân kia chắc không nói gì với sư phụ Tobsgyais, khi ông ta đi rồi thì bao hy vọng cũng trôi theo dòng nước.
Ông toan quỳ xuống để chào từ biệt vị hóa thân, thì nghe vị này buông một câu gọn lỏn:
- Đi theo ta!
Karma Dordji hơi sửng sốt. Người ta chưa hề bắt ông làm bất cứ điều gì. Vậy thì vị Lạt ma này muốn gì đây? Lều trại dưới chân núi đã được xếp gọn gàng để sẵn sàng lên đường, vậy thì có việc gì để ông làm nữa? Hay là vị hóa thân này muốn tặng cho người chú một món quà mà để quên dưới chân núi nên nhờ ông xuống mang lên?
 Khi đến chân núi, vị hóa thân ngoảng lại bảo:
- Ta đã trình bày với Kouchog Rimpotché (Đại Hòa thượng) về nguyện vọng muốn học huyền thuật của ông. Ngài trả lời cho ta biết trong tịnh thất này không có những sách vở loại đó để ông nghiên cứu. Loại sách vở đó bên ta có rất nhiều, nên Hòa thượng dặn ta đưa ông qua bên đó để tha hồ mà nghiên cứu, học hỏi. Ngựa của ông đó, hãy lên ngựa và đi theo đoàn tùy tùng của ta.
Dứt lời, vị Lạt ma lên ngựa đi theo đoàn tùy tùng đang đứng chờ ông.
Tất cả mội người quay mặt về hướng tịnh thất, cung kính quỳ xuống lạy từ biệt Lạt ma Tobsgyais, rồi nhảy lên yên ngựa, phi nước đại đi xa dần.
Karma Dordji đứng sững tại chỗ, một người hầu đặt dây cương vào tay ông. Ông thấy mình ngồi trên yên ngựa, rồi thúc ngựa đi theo đoàn người, mà không hề quan tâm điều gì sẽ chờ đợi mình.
Chuyến đi có một sự cố nhỏ. Vị Lạt ma hóa thân chẳng hề đoái hoài gì đến Karma Dordji, dù ông ở chung lều và ăn uống chung với những tu sĩ trong đoàn(5).
Tu viện của vị hóa thân còn xa lắm mới sánh được với quy mô hoành tráng của những tu viện ở Tây Tạng. Tuy nhiên, dù bề ngoài trông khá nhỏ, song nó lại rất đầy đủ tiện nghi.
Sau khi đến tu viện được bốn ngay, một trapa đến báo cho Karma Dordji biết rằng vị tulkou đã cho mang vào mật thất (tsham skhang) tất cả sách vở cần thiết mà Lạt ma Tobsgyais yêu cầu để ông nghiên cứu. Vị trapa còn nói thêm rằng trong suốt thời gian nghiên cứu trong mật thất, tu viện sẽ gởi đồ ăn thức uống đều đặn đến cho ông.
Karma Dordji làm theo lời hướng dẫn, và sống trong một mật thất sạch sẽ gần tu viện. Cửa sổ nhìn ra tu viện với mái ngói mạ vàng chói sáng, và xa hơn nữa là thung lũng được bao quanh bằng những sườn đồi cây cối rậm rạp. Bên cạnh bàn thờ trên gác là ba mươi bộ kinh sách được bao bọc cẩn thận, và buộc chặt bằng dãi lụa.
Nhà huyền thuật tương lai cảm thấy thoải mái. Ông bắt đầu nghiên cứu kỹ lưỡng các pho kinh sách kia.
Trước khi để Karma Dordji ở đó, vị trapa còn dặn thêm rằng với tulkou không quy định ông phải ở mãi trong mật thất. Ông có thể tự do sắp xếp thời gian biểu cho sinh hoạt của mình, có thể đi múc nước ở con suối gần đó và đi dạo thoải mái. Nói xong, vị trapa chỉ cho ông thấy những túi lương thực và đống củi trước khi bỏ đi.
Karma Dordji say sưa đọc. Ông thuộc lòng những thể thức luyện huyền thuật và siêng năng thực hành với kỳ vọng sẽ đạt được thần thông để khỏi phụ lòng vị gourou là Lạt ma Tobsgyais đang chờ ngày ông quay trở lại. Ông lập nhiều đàn tràngkyilkhor theo hướng dẫn trong sách, dùng bột mì và bơ để làm những cái bánh cúng torma đủ mọi hình dạng để luyện huyền thuật chớ không ăn, đồng thời tinh tấn tham thiền nhập định.
Suốt mười tám tháng trời, lòng nhiệt tình của ông không hề sút giảm. Ông chỉ bước chân ra ngoài mật thất để đi lấy nước, không hề trò chuyện với những trapa mang lương thực đến hai lần mỗi tháng, và cũng không hề đến bên cửa sổ để nhìn ra ngoài. Dần dần, những tư tưởng trước kia ông chưa bao giờ nghĩ đến giờ đây thấm dần vào ông trong quá trình thiền định. Đối với ông, những câu kinh văn, những vòng tròn huyền thuật giờ đây mang một ý nghĩa hoàn toàn mới mẻ, xuất hiện trong một làn ánh sáng hoàn toàn khác. Ông dừng chân bên cửa sổ mở rộng nhìn cảnh các tu sĩ đi đi lại lại ở bên ngoài. Cuối cùng, ông rời mật thất, chạy lên trên núi, nhìn thật lâu vào từng cái cây, từng viên đá cuội, nhìn mây bay lơ lửng trên trời, nhìn dòng suối tuôn róc rách, tất cả đang hòa điệu trong trò chơi của ánh sáng và bóng tối.
Ông ngồi đó hàng giờ, nhìn những ngôi làng rải rác trong thung lũng, quan sát những người nông dân đang cày bừa trên ruộng đồng, nhìn đàn gia súc đang đủng đỉnh thồ vật nặng trên lưng hoặc đang nhởn nhơ ngoài đồng cỏ.
Mỗi chiều, sau khi thắp đèn trên bàn thờ xong là Karma Dordji bắt đầu ngồi thiền. Nhưng giờ đây ông không còn tìm kiếm nữa, không còn thực hành theo các nghi quỹ trong kinh sách nữa, không còn cầu các nữ thần hiện thân ra nữa. Karma Dordji ngồi thiền như thế cho đến nửa đêm hoặc đến lúc bình minh. Ông ngồi yên bất động, đánh mất toàn bộ giác quan và tư tưởng, ông thấy mình như đứng trên bờ sông nhìn cơn thủy triều đang dâng lên từ một đại dương lấp lánh mơ hồ, sẵn sàng nhận chìm ông dưới làn nước mênh mông trắng xóa.
Hai tháng nữa trôi qua, rồi đến một đêm hay một ngày ông không nói rõ, Karma Dordji thấy thân thể mình từ từ bay lên khỏi tấm bồ đoàn ông đang ngồi. Vẫn không thay đổi tư thế ngồi thiền với hai chân bắt chéo, Karma Dordji bay ra khỏi cửa, trôi bồng bềnh rồi bay lượn trên không. Cuối cùng, ông bay về đến quê nhà, đến trước tu viện ngày xưa. Lúc đó là buổi sáng, cáctrapa vừa mới tản ra khỏi hội trường sau buổi lễ sớm. Ông nhận ra rất nhiều người trong họ: nào là những tu sĩ có chức sắc, nào là những tulkou, nào là những bạn đồng môn thuở trước. Ông thấy ai nấy cũng đều có vẻ mệt mỏi, bận bịu và muộn phiền, nên càng tò mò nhìn thật kỹ. Từ trên cao nhìn xuống trông họ thật nhỏ bé đáng thương biết ngần nào! Khi ông hiển lộ thần thông cho họ thấy thì trông họ sững sờ kinh hoảng biết bao nhiêu! Và khi tất cả quỳ xuống trước mặt ông- nhà huyền thuật đã đạt được những quyền năng siêu nhiên - thì trông họ càng thảm não!
Nhưng rồi ngay cả ý tưởng chiến thắng trước đám người kia cũng khiến ông mỉm cười thương hại. Ông thấy thật nhọc lòng vô ích khi phải bận tâm đến những con người nhỏ bé đớn hèn đó. Ông không còn nghĩ đến họ nữa. Ông nghĩ đến niềm vĩnh phúc chan hòa trong ngọn thủy triều dâng cao của đại dương bao la lấp lánh và rất đỗi bình yên, không một gợn sóng lao xao. Ông không còn muốn hiển lộ thần thông ra trước đám người kia nữa. Họ có nghĩ gì về ông cũng không còn gì quan trọng, ngày xưa họ đã khinh bỉ làm nhục ông, rồi ông khao khát trả thù… tất cả điều đó giờ đây đều trở thành khôi hài và vô nghĩa. Bao nhiêu ý tưởng về vinh quang và thù hận đều tan biến.
Ông bay trên không trung để quay về. Đột nhiên cả tòa tu viện đều chấn động rồi sụp đổ tan tành. Các dãy núi chung quanh cũng lắc lư hỗn loạn, đỉnh núi này vừa sụp thì đỉnh khác lại nhô lên. Mặt trời băng qua bầu trời như một ngôi sao băng, tựa hồ như rơi xuống. Rồi một mặt trời khác xuất hiện, chọc thủng cả nền trời. Cảnh tượng huyền nảo dị thường đó cứ nối tiếp nhau đến vô biên vô tận. Dordji không còn phân biệt được gì ngoài một cơn lũ thét gầm cuồng nộ, mà những con sóng tung bọt trắng kia chính là mọi loài vô tri hay hàm thức trên thế gian này.
Ảnh tượng này không phải là điều hiếm xảy ra đối với các đạo sư huyền thuật Tây Tạng khi nhập định. Không nên lẫn lộn chúng với giấc mơ. Chủ thể quán sát ảnh tượng này không hề mơ ngủ, và thông thường thì dù hoàn tất cuộc viễn trình qua thế giới ảnh tượng đó, hành giả vẫn hoàn toàn ý thức về bản thân và không gian quanh mình. Do đó, đôi khi ở trong lúc nhập định xuất thần mà có nguy cơ bị nhiễu loạn, thì hành giả sẽ cảm thấy bất an, và muốn đừng có điều gì xảy đến, không muốn có ai nói chuyện với mình hay gọi mình, không ai gõ cửa v.v… trong trạng thái hoàn toàn tỉnh táo. Trong trường hợp đó, mặc dù không thể nói năng hay di chuyển, song hành giả vẫn có thể lắng nghe và cảm nhận được những diễn biến chung quanh. Lúc đó, mọi âm thanh hay cảnh mọi người tới lui, qua lại sẽ đem lại cho hành giả cảm giác hết sức nặng nề. Nếu ngoại cảnh kéo hành giả ra khỏi trạng thái tâm thức đó, hoặc nếu vì một lý do nào đấy mà hành giả buộc phải nỗ lực thoát ra, thì một cơn chấn động tinh thần tiếp theo sẽ gây nên xung đột đau đớn mà hậu quả nặng nề còn lưu lại rất lâu.
 Chính vì thế, để tránh những cơn chấn động cùng những hậu quả đáng tiếc đối với sức khỏe, hành giả cần phải tuân thủ những quy định khi chấm dứt sau một buổi ngồi thiền, nếu thời gian ngồi thiền tương đối kéo dài. Chẳng hạn hành giả phải quay đầu chầm chậm từ phải qua trái, xoa trán một lúc, bắt chéo tay ra sau lưng, ưỡn người ra phía sau v.v… Mỗi người chọn một cách phù hợp với mình.
Đối với Thiền tông Nhật Bản, các tu sĩ tập trung tọa thiền trong một thiền phòng lớn, một vị giám sát tăng cầm thiền bảng theo dõi, hễ thấy người nào có vẻ uể oải buồn ngủ sẽ quất một cú vào vai để đánh thức. Tất cả những ai đã nếm mùi thiền bảng đều nói rằng cú đánh đó giúp phục hoạt lại thần kinh.
Karma Dordji quay về lại mật thất và nhìn và nhìn cảnh vật quanh mình. Căn phòng đó, cùng đống sách vở trên giá gỗ, bàn thờ đó cùng với bếp lò, tất cả cũng y nguyên như ngày hôm qua, như ông đã nhìn một cách quen thuộc suốt gần ba năm nay. Ông đứng lên, đến bên cửa sổ nhìn ra. Tu viện, thung lũng, những rừng cây bao phủ sườn núi vẫn hiện ra với dáng vẻ thân quen. Không có gì thay đổi, thế nhưng tất cả đều khác biệt.
Karma Dordji bình thản nhóm lửa, và khi đống củi cháy bùng lên thì ông lấy kéo cắt đứt mái tóc naldjorpa dài phủ gót của mình, rồi ném nó vào trong đống lửa. Ông pha trà, uống trà, lặng lẽ bỏ một ít lương thực vào tay nải, khoác trên vai rồi bước ra ngoài, không quên cài then mật thất cẩn thận.
Khi tới tu viện, ông đi đến trước gian phòng của vị tulkou thì gặp một chú tiểu đứng ngoài sân. Karma Dordji nhờ chú tiểu chuyển lời từ biệt đến vị sư phụ, và ngỏ lời cám ơn vị trụ trì nhân đức đã cưu mang ông trong thời gian qua. Nói xong, Dordji quay lưng bỏ đi.
Đi được một quãng thì Karma Dordji nghe có tiếng người gọi. Ông quay lại nhìn thì thấy một chú tiểu chạy đến bảo:
- Đại hòa thượng (Kouchog Rimpotché) muốn gặp sư huynh.
Dordji liền quay lại tu viện.
Vị Lạt ma trụ trì từ tốn hỏi:
Ông muốn rời tu viện, nhưng ông sẽ đi đâu?
Karma Dordji đáp:
- Quay về lại với bổn sư (gourou).
Vị Lạt ma tulkou im lặng một lúc, rồi cất giọng buồn bã:
- Tôn thúc của ta đã vượt ra ngoài cõi khổ đau(6) hơn sáu tháng nay rồi.
Karma Dordji lặng người không nói được một lời.
Vị Lạt ma nói tiếp:
- Nếu ông muốn quay về lại tịnh thất (riteu) của Rimpotché thì ta sẽ tặng ông một con ngựa làm quà. Về đó, ông sẽ gặp một Lạt ma trụ trì mới, đó là pháp tự của người.
Karma Dordji cảm tạ và không nhận gì cả. Mấy ngày sau, ông quay về lại tịnh thất màu trắng, nơi anh nắng đầu tiên đậu trên vầng trán và chỉ đường cho ông đi. Dordji đi vào căn phòng của vị Lạt ma quá cố, nơi ông chỉ đặt chân vào một lần duy nhất trong ngày đầu đến nơi đây, quỳ xuống khấu đầu trước bồ đoàn mà Lạt ma Tobsgyais vẫn ngồi thiền hàng đêm.
Sáng hôm sau, Dordji từ giã vị trụ trì mới. Vị này khoác cho ông cái áo choàng zen của vị Lạt ma quá cố.
Từ đó, Karma Dordji sống một đời vân du phiêu lãng, phần nào giống với vị Thánh tăng khổ hạnh Milaréspa mà ông vô cùng tôn kính. Khi tôi gặp ông thì ông cũng đã già, nhưng vẫn không nghĩ đến chuyện tìm một chỗ định cư.
Hiếm có vị Tăng khổ hạnh ở Tây Tạng nào lại có cuộc đời kì dị như Karma Dordji. Lý do ông khổ công tầm sư học đạo cũng rất đỗi lạ lùng, nên tôi mới kể dài dòng ra đây. Tuy vậy, chuyện tu tập của những môn đồ các gomtchén cũng luôn mang những sắc thái lạ thường. Tôi đã nghe kể nhiều câu chuyện về chủ đề này, và kinh nghiệm của bản thân tôi với tư cách là một môn sinh nơi “Xứ tuyết” đã khiến tôi phải tin rằng một phần lớn những câu chuyện đó là hoàn toàn có thật. 

(1) Bản dịch được thực hiện theo nguyên bản tiếng Pháp Mystiques et Magicciens du Tibet, NXB.PLON, 1929, các trang 194-206. (Ghi chú của người dịch; các ghi chú trong nguyên tác sẽ ghi thêm (T.g)).
(2) Kyilkhor là một loại đồ hình vẽ trên giấy hoặc trên vải, có khi khắc trên kim loại, trên đá hay trên gỗ. Một số kyilkhor được thiết kế cùng những lá cờ nhỏ, đèn, hương, bánh bột dùng để cúng gọi là torma, và những chai lọ đựng nhiều vật cúng khác nhau... để tạo nên một vòng tròn nhỏ. Những nhân vật được tạo hình trong đó cùng đoàn tùy tùng thường không hiện ra dưới hình dáng thật, mà chỉ có ý nghĩa tượng trưng. Ví dụ chư thiên hay các vị Lạt ma được tạo hình như một kim tự tháp nhỏ bằng bánh bột gọi là torma. Các kyilkhor có khi được vẽ trên nền nhà hoặc trên nền đất bằng bột màu.
(3) Bản tiếng Anh phiên âm là ritöd và dịch là “chốn ẩn cư” (hermitage). Riteu là tịnh thất nằm ẩn khuất trên những sườn núi chênh vênh, dành cho các vị ẩn tu.
(4) Vị thần Lạt ma giáo tượng trưng cho các nhà khổ tu lõa thể. (T.g).
(5) Những người hầu của Lạt ma phải là những tu sĩ. Những người thế tục không được phép ở trong khuôn viên tu viện. (T.g).
(6) Nya-nien les des song: cách nói tôn kính về một vị Lạt ma thánh thiện đã viên tịch, có nghĩa là đã đạt đến cõi Niết Bàn. (T.g).
Source: thuvienhoasen

TÂM YẾU CỦA CÁC ĐẠO SƯ VĨ ĐẠI
Nguyên tác: “Heart-Essence of The Great Masters” of H.H. Dudjom Rinpoche 
Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên

 Bổn sư, bậc quý báu và tốt lành nhất,blank
 Pháp Vương của mạn đà la,
 Nơi nương tựa (quy y) duy nhất, trường cửu, không bao giờ vơi cạn,
 Với lòng đại bi của Ngài, xin hộ trì cho con:
 Chỉ làm việc cho cuộc đời này,
 Không ghi khắc trong tâm cái chết,
 Phí phạm việc sinh ra làm người tự do, đầy ân phước này.

 Đời người, kéo dài chỉ trong chốc lát, 
 như một giấc mộng –
 Có thể hạnh phúc mà cũng có thể buồn sầu.
 Không ước muốn hỉ lạc; không né tránh buồn đau
 Cầu mong con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt.

 Đời người này, 
 như ngọn đèn bơ trước gió - 
 Có thể tồn tại lâu dài, hay có thể không lâu.
 Không để bản ngã xiết chặt thêm nữa
 Cầu mong con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt.

 Một cuộc đời xa hoa, 
 như một xuất hiện quyến rũ mê hồn –
 Có thể qua đi mà cũng có thể không.
 Bằng những phương cách của tám pháp thế gian
 Hãy ném nó đi như ném vỏ trấu
 Cầu mong con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt.

 Tất cả những thuộc hạ này,
 như một đàn chim trên cây –
 Có thể vây quanh con mà cũng có thể không.
 Không để cho người khác xỏ mũi
 Cầu mong con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt.

 Huyễn thân này, 
 như một ngôi nhà trăm năm mục nát – 
 Có thể tồn tại lâu dài; có thể trở thành cát bụi.
 Không bị vướng kẹt trong những nỗ lực để có được thực phẩm, quần áo hay thuốc men 
 Cầu mong con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt.

 Hoạt động Pháp này, 
 như trò chơi của một đứa trẻ –
 Có thể tiếp tục mà cũng có thể không.
 Không bị mắc lừa bởi những sự việc không có thực chất
 Cầu mong con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt.

 Tất cả những vị trời và tinh linh này, 
 như phản chiếu của một tấm gương –
 Họ có thể hữu ích; cũng có thể gây tác hại.
 Không coi những thị kiến sai lầm của riêng con là kẻ thù 
 Cầu mong con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt.

 Mọi trò chuyện tầm phào rối rắm này, không dấu vết như một tiếng vang –
 Có thể hay ho mà cũng có thể không.
 Với Tam Bảo và sự xác chứng của tâm con,
 Cầu mong con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt.

 Những đồ vật, 
 như một chiếc gạc nai –
 có thể tỏ ra vô ích trong lúc thực sự cần thiết –
 Con có thể hiểu rõ chúng mà cũng có thể không.
 Không đặt niềm tin đơn thuần nơi các môn nghệ thuật và khoa học
 Cầu mong con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt.

 Những tặng vật và tiền bạc này do tín chủ hiến cúng, 
 như độc dược chết người –
 Con có thể nhận mà cũng có thể không.
 Không sử dụng đời mình để nỗ lực
 tích lũy của cải xấu xa
 Cầu mong con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt.

 Tòa nhà đồ sộ này, 
 như cục cứt chó gói trong mảnh lụa –
 Con có thể có nó mà cũng có thể không.
 Thấu hiểu sự mục ruỗng ngay bản thân con,
 Cầu mong con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt.

 Bằng hữu và gia đình, 
 như du khách tụ họp trong một phiên chợ -
 Họ có thể xấu xa; có thể dễ thương.
 Cắt đứt tận đáy lòng sự trói buộc bền chắc của tham luyến 
 Cầu mong con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt.

 Mọi tài sản này,
 như của cải tìm thấy trong một giấc mộng – 
 Con có thể sở hữu chúng mà cũng có thể không.
 Không sử dụng thủ thuật và sự nịnh nọt để lung lạc người khác
 Cầu mong con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt. 

 Địa vị đẳng cấp này,
 như một con chim nhỏ đậu trên cành –
 Có thể cao mà cũng có thể thấp.
 Không tự khiến mình khổ sở
 ao ước một địa vị tốt hơn,
 Cầu xin con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt.

 Thực hành bùa chú của huyền thuật, 
 như vũ khí giết người –
 Con có thể có khả năng phù phép mà cũng có thể không.
 Không mua dao
 để cắt cổ chính mình,
 Cầu xin con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt.

 Cầu nguyện,
 như một con vẹt nói om mani padme hum –
 Con có thể làm điều đó mà cũng có thể không.
 Không khoác lác về mọi điều con làm,
 Cầu xin con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt.

 Cách thức giảng dạy Pháp,
 như nước chảy –
 Con có thể lão luyện mà cũng có thể không.
 Nghĩ rằng chỉ hùng biện không thôi không phải là Pháp 
 Cầu xin con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt.

 Trí năng tạo nên những phân biệt tinh xảo,
 như một con heo ủi đất -
 Có thể đần độn mà cũng có thể thông minh.
 Không để cho những ngạnh gai
 của sân hận và tham luyến vô nghĩa xuất hiện
 Cầu xin con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt.

 Những kinh nghiệm thiền định,
 như nước giếng vào mùa hạ -
 Có thể nhiều thêm mà cũng có thể ít đi.
 Không làm như trẻ con,
 đuổi bắt cầu vồng,
 Cầu xin con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt.

 Tri giác thanh tịnh này,
 như trận mưa trên đỉnh núi –
 Có thể xuất hiện mà cũng có thể không.
 Không coi kinh nghiệm mê lầm là có thực,
 Cầu xin con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt.

 Những tự do và điều kiện thuận lợi này,
 như một viên ngọc như ý –
 Nếu không có chúng, chẳng có cách nào
 để thành tựu Thánh Pháp.
 Không ném bỏ đi
 những gì sẵn có trong tay con,
 Cầu xin con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt.

 Đạo sư vinh quang, như một ngọn đèn
 soi sáng con đường dẫn tới giải thoát –
 Nếu con không thể gặp ngài,
 chẳng có cách nào chứng ngộ chân tánh.
 Không nhảy khỏi vách núi
 khi con biết con đường để tiếp tục, 
 Cầu xin con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt.

 Giáo Pháp thiêng liêng,
 như một phương thuốc chữa lành bệnh tật –
 Nếu con không nghe nói về nó, chẳng có cách nào biết được
 điều gì nên làm và điều gì không nên.
 Không nuốt thuốc độc
 khi con có thể phân biệt sự lợi hại,
 Cầu xin con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt.

 Vòng biến dịch vui và buồn;
 như mùa màng thay đổi –
 Nếu không nhận ra điều này,
 chẳng có cách nào thành tựu sự từ bỏ.
 Bởi chắc chắn là thời kỳ khổ nhọc
 sẽ quay lại với con,
 Cầu xin con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt.
 
 Sinh tử,
 như một hòn đá rơi tòm xuống nước –
 Giờ đây nếu con không thoát ra, sau này con sẽ không ra khỏi. 
 Kéo mình ra bằng sợi thừng
 của Tam Bảo bi mẫn,
 Cầu xin con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt.

 Những phẩm tính tốt lành của sự tự do
 như một hòn đảo châu báu –
 Nếu không biết chúng,
 chẳng có cách nào để bắt đầu nỗ lực.
 Khi đã nhận ra thuận lợi
 của chiến thắng vĩnh cửu, 
 Cầu xin con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt.

 Tiểu sử của các Đạo sư vĩ đại,
 như tinh túy cam lồ -
 Nếu chúng không được biết tới, 
 chẳng có cách nào 
 để phát khởi niềm tin.
 Không chọn lựa sự tự-hủy diệt
 khi con có thể phân biệt thắng-bại,
 Cầu xin con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt.

 Bồ đề tâm,
 như một cánh đồng phì nhiêu –
 Trừ phi nó được nuôi dưỡng, không có cách nào
 thành tựu giác ngộ.
 Không trì trệ lười nhác
 khi có một mục tiêu vĩ đại để thành tựu,
 Cầu xin con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt.

 Tâm thức con,
 như hành động càn bậy của một con khỉ -
 Không canh giữ nó, chẳng có cách nào
 tránh khỏi những cảm xúc xung đột.
 Không hành động phóng túng, như một kẻ điên cuồng, 
 Cầu xin con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt.

 Bản ngã, như bóng tối cùng sinh ra với con -
 Cho tới khi nó bị từ bỏ,
 Chẳng có cách nào đến được nơi chân lạc.
 Khi kẻ thù là do con định đoạt
 vì sao xử sự với hắn như một người bạn?
 Cầu xin con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt.

 Năm độc,
 như than hồng giữa đống tro –
 Cho tới khi chúng bị tiêu diệt, 
 ta không thể an trụ thư thản trong trạng thái tự nhiên.
 Không nuôi dưỡng rắn con trong túi áo,
 Cầu xin con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt. 

 Dòng tâm thức này,
 như lớp da bền chắc của một túi bơ –
 Nếu không được điều phục và thuần hóa,
 ta không thể hòa trộn tâm với Pháp.
 Không làm hư hỏng đứa trẻ tự-sinh,
 Cầu xin con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt. 

 Những tập quán xấu xa thâm căn cố đế, những dấu vết nghiệp lực này,
 như những dòng nước mạnh của một con sông –
 Nếu không cắt đứt chúng,
 không tránh khỏi việc hành sử đối nghịch với Pháp.
 Không bán vũ khí cho kẻ thù, 
 Cầu xin con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt. 

 Những phóng dật này,
 như những con sóng không bao giờ dứt –
 Nếu không từ bỏ chúng,
 chẳng có cách nào trở nên kiên định.
 Khi con có thể làm như con thích, vì sao thực hành sinh tử?
 Cầu xin con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt. 

 Ân phước của Lạt ma,
 như mùa xuân sưởi ấm đất và nước –
 Nếu những ân phước ấy không thấm nhập vào con,
 không có cách nào,
 đưa vào bản tánh của tâm.
 Khi có một lối tắt,
 sao phải dùng con đường vòng vo thăm thẳm?
 Cầu xin con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt. 

 Ẩn thất này trong chốn hoang vu,
 như mùa hạ ở một nơi tươi tốt
 có cỏ cây phát triển –
 Nếu con không ở đó, 
 những phẩm tính tốt lành không thể phát sinh.
 Khi leo lên những ngọn núi,
 đừng thơ thẩn quay về chốn đô hội tối tăm. 
 Cầu xin con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt. 

 Tham muốn dục lạc,
 như một tinh linh xấu vào nhà –
 Nếu con không thoát khỏi nó, 
 Con sẽ chẳng bao giờ ngừng gây đau khổ.
 Không cúng dường 
 cho lũ quỷ phàm ăn như các vị trời riêng của con,
 Cầu xin con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt.

 Chánh niệm,
 như ổ khóa trên cổng lâu đài –
 Nếu không có nó,
 ta không thể ngăn cản những chuyển động của ảo tưởng.
 Khi chắc chắn là kẻ trộm đang đến,
 vì sao quên cài then cửa?
 Cầu xin con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt.
 
 Chân tánh 
 bất biến, như bầu trời – 
 Cho tới khi chứng ngộ nó,
 ta không thể hoàn toàn xác quyết
 những nghi ngờ về cái thấy.
 Không để mình bị những lý thuyết trói buộc
 Cầu xin con thực sự thực hành Giáo Pháp siêu việt.

 Giác tánh,
 như một mẩu pha lê không tỳ vết –
 Cho tới khi nhận ra được nó,
 thiền định có chủ ý không thể giải tan.
 Khi có một bạn đồng hành không thể phân ly,
 tại sao bỏ đi tìm người khác?
 Cầu xin con thực sự thực hành Giáo pháp siêu việt.

 Khuôn mặt của tâm bình thường,
 như một người bạn cũ –
 Nếu không nhận ra nó, 
 mọi sự ta làm đều lầm lạc.
 Không mò mẫm trong bóng tối
 với đôi mắt nhắm nghiền,
 Cầu xin con thực sự thực hành Giáo pháp siêu việt.

 Tóm lại, không từ bỏ
 những bận tâm của cuộc đời này,
 thì chẳng có cách nào thành tựu
 Thánh Pháp sau khi chết.
 Khi đã quyết định tự lộ bày thiện tâm vĩ đại,
 Cầu xin mọi sự con làm đều hướng về Pháp.

 Cầu xin con không có tà kiến đối với Lạt ma
 bậc đã ban tặng những giáo huấn
 phù hợp với Pháp.
 Cầu xin con không mất niềm tin nơi Bổn Tôn
 khi bất hạnh xảy tới.
 Cầu xin con không trì hoãn việc thực hành
 khi hoàn cảnh trở nên khó khăn.
 Cầu xin không có những chướng ngại
 để đạt được thành tựu.

 Mọi hoạt động này
 thật vô nghĩa, như thể thực hiện một chuyến du hành vĩ đại
 tới nơi hoang mạc.

 Mọi nỗ lực này
 chỉ làm cho dòng tâm thức của con thêm khô cứng.

 Mọi suy tưởng này
 chỉ gia thêm lầm lỗi vào lỗi lầm.

 Mọi điều được coi là Pháp
 đối với những kẻ tầm thường
 chỉ tạo thêm trói buộc.

 Quá nhiều hoạt động; chẳng mang lại kết quả gì.
 Quá nhiều suy tưởng; chẳng có ý nghĩa gì.
 Quá nhiều mong muốn; chẳng có thì giờ cho nó.
 Khi đã từ bỏ điều này,
 Cầu mong con có thể thực hành
 phù hợp với các giáo huấn.

 Nếu con phải làm điều gì –
 xin Phật Pháp chứng minh.
 Nếu con muốn làm điều gì –
 xin hòa trộn dòng tâm và Pháp.
 Nếu con phải thành tựu điều gì –
 hãy đọc tiểu truyện của các Đạo sư trong quá khứ.

 Những điều khác có ích lợi gì?
 Một đứa trẻ hư hỏng!
 Hãy ngồi ở vị trí thấp,
 và trở nên giàu có với sự mãn nguyện.
 Hãy nỗ lực để thoát khỏi tám pháp thế gian.

 Cầu xin con nhận được những hộ trì của Lạt ma;
 Cầu xin chứng ngộ của con bao la như bầu trời.
 Xin ban ân phước để con có thể đạt được
 Pháp tòa của Đức Kuntuzangpo (Phổ Hiền).

 Do Đức Jigdral Yeshe Dorje (H.H. Dudjom Rinpoche) biên soạn để đáp lại lời khẩn cầu của chính Ngài, 
 Cô đọng yếu nghĩa từ giáo huấn kim cương của những Đạo sư vĩ đại trong quá khứ. 

 Bản dịch này được cúng dường với lời cầu nguyện cho sự hộ trì của Đức Jigdral Yeshe Dorje (H.H. Dudjom Rinpoche) được liên tục, và những Hóa thân của Ngài được trường thọ, vì lợi lạc của tất cả chúng sinh.

 Bhakhar Tulku Rinpoche và Constance Wilkinson dịch từ Tạng ngữ sang Anh ngữ.

 Sarva Mangalam
 

 Nguyên tác: “Heart-Essence of The Great Masters” 
 of H.H. Dudjom Rinpoche
 http://www.sealevel.ca/heart/heart06.html
 Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên

Source: thuvienhoasen

Phật thuyết kinh Túc Mạng Trí đà-ra-ni
Đại sư Pháp Hiền phụng chiếu dịch từ Phạn ra Hán văn
Sa-môn Thích Viên Đức dịch ra Việt văn (1975)
Bấy giờ đức Thế tôn bảo A-nan rằng: "Có đà-ra-ni tên là Túc Mạng Trí. Nếu có chúng sanh nghe đà-ra-ni này mà hay chí tâm thọ trì, thì bao nhiêu nghiệp tội cực nặng trong một ngàn kiếp thảy đều tiêu diệt. Nếu có thể cả đời thọ trì không gián đoạn, người đó trong bảy trăm ức đời thường biết túc mạng". Đức Thế tôn liền nói đà-ra-ni rằng:
Na mô la đát-na thất cật nê Đát tha nga đa dã A la-hạt đế tam miệu ngật tam một đà dã Đát nãnh tha Úm la đát-nê la đát-nê Tô la đát-nê La đát-nỗ nạp bà vị Ma hạ ra đát-na chỉ ra ni Ra đát na tam bà vị ta-phạ ha. (1)
Bấy giờ A-nan nghe Phật tuyên nói khiến các chúng sanh được Túc Mạng Trí đà-ra-ni rồi, khen ngợi chưa từng có, hoan hỉ vô lượng, lễ Phật lui về.

Phật thuyết kinh Túc Mạng Trí đà-ra-ni (hết)
Sa-môn Thích Viên Đức dịch ra Việt văn năm 1975, dị bản, chưa bổ sung, chưa hiệu đính.

(1) Ghi chú Đại sư Pháp Hiền còn dịch một bản Túc Mạng Trí đà-ra-ni mà nguyên văn như sau:
Na mồ Bà nga phạ đế A sô tì dạ dã Đát tha nga đá dã A ra hát đế Tam miệu ngật tam một đà dã Đát nĩnh tha. Úm Át sát duệ át sát duệ Át sát dã phạ ra nõa Vĩ du đạt nễ Ta phạ ha.”

Vi tính: Nguyễn minh Hoàng và Nguyễn thị Diệu Minh.
Source: thuvienhoasen

Kinh Nhứt thiết Như Lai danh hiệu đà-ra-ni
Đại sư Pháp Hiền phụng chiếu dịch từ Phạn ra Hán văn
Sa-môn Thích Viên Đức dịch ra Việt văn

Như thật tôi nghe: Một thời đức Phật ở tại Pháp Giả Ðại Bồ-đề Ðạo tràng thuộc nước Ma-già-đà, vừa thành Chánh giác cùng các Bồ-tát Ma-ha-tát chúng gồm có tám vạn người đều câu hội đầy đủ, lại còn có tám vạn bốn ngàn Ðại Phạm Thiên tử cũng ở tại đạo tràng này. Tất cả đều vi nhiễu chiêm ngưỡng đức Thế tôn.
Bấy giờ trong hội có đại Bồ-tát tên Quán Tự Tại, từ tòa đứng dậy, trịch vai áo bên hữu, gối hữu sát đất, chắp tay hướng Phật mà bạch Phật rằng: “Kính thưa đức Thế tôn! Có Nhứt Thiết Như Lai Danh Hiệu đà-ra-ni, trong Trang Nghiêm kiếp, Hiền kiếp, Tinh Tú kiếp, chư Phật Như Lai đã nói, đang nói Nhứt Thiết Như Lai Danh Hiệu đà-ra-ni này. Con nay thừa oai lực của Phật, cũng vì lợi ích an lạc các chúng sanh, cho nên muốn tuyên nói. Cúi mong đức Thế tôn thương xót phú hộ.”
Bấy giờ đức Thế tôn khen ngợi Quán Tự Tại Ðại Bồ-tát rằng: “Lành thay, lành thay! Này Quán Tự Tại, ông hay vì lợi ích tất cả chúng sinh mà phát đại bi tâm, hãy tuyên nói như ý.”
Lúc ấy Quán Tự Tại Bồ-tát mong nhờ Phật đã cho phép rồi, lại bạch đức Phật rằng: “Thưa đức Thế tôn! Nếu người muốn tụng đà-ra-ni này, trước hãynên chí thành tụng danh hiệu của chư Phật Như Lai sau đây:
Nam mô Bảo Sư Tử Tự Tại Như Lai
Nam mô Bảo Vân Như Lai
Nam mô Bảo Trang Nghiêm Tạng Như Lai
Nam mô Sư Tử Ðại Vân Như Lai
Nam mô Vân Sư Tử Như Lai
Nam mô Tu Di Như Lai
Nam mô Sư Tử Hống Như Lai
Nam mô Sư Tử Lợi Như Lai
Nam mô Phạm Âm Như Lai
Nam mô Thiện Ái Như Lai
Nam mô Liên Hoa Thượng Như Lai
Nam mô Nhiên Ðăng Như Lai
Nam mô Liên Hoa Sanh Như Lai
Nam mô Tốn Na Ra Như Lai
Nam mô Trì Hoa Như Lai
Nam mô Trì Bảo Như Lai
Nam mô Pháp Sanh Như Lai
Nam mô Nhựt Quang Như Lai
Nam mô Nhựt Chiếu Như Lai
Nam mô Nguyệt Quang Như Lai
Nam mô Vô Lượng Tạng Như Lai
Nam mô Vô Lượng Trang Nghiêm Tạng Như Lai
Nam mô Vô Lượng Quang Như Lai
Nam mô Liên Hoa Tạng Như Lai
Nam mô Thiên Diệu Âm Như Lai
Nam mô Câu Chỉ La Ðẳng Như Lai

Nếu người được nghe tất cả các danh hiệu của chư Phật Như Lai như thế, vì kẻ khác tuyên nói, người đó trong sáu mươi ngàn kiếp không nghe tên ác thú huống nữa là đoạ nơi A-tỳ địa ngục”.
Bấy giờ Quán Tự Tại Bồ-tát nói danh hiệu của chư Phật Như Lai rồi, liền nói đà-ra-ni rằng:
Ðát Nĩnh Dã Tha, Tạt Ðổ Ra Thi Ðế Du Nhạ Na Thiết Ða Tát Hạ Tát Ra Ni, Nhạ Trá Bà Ra Mạt Cô Tra Lãng Ngật Lị Ða, Ðà Ra Ni Sa Hạ, Tạt Lị Phạ Ðát Tha nga đa Mẫu Lị Ðể Ða, Ðà Ra Ni Sa Hạ, A Phạ Lộ Kiết Ðế Thuyết Ra Giả Sa Hạ, Tát Lị Phạ Ðát Tha Nga Ðô Ô Sắc Nị Sa, Ðà Ra Ni Sa Hạ, Tát Lị Phạ Ðát Tha Nga Ða Bà Thỉ Ða, Ðạt Lị Ma Tắc Kiên Ðà, đà-ra-ni Sa Hạ, Tát Lị Phạ Ðát Tha Nga Ða Bà Thỉ Ða Táp Bát Ða Ðà Ra Ni Sa Hạ, Bát Nạp Ma A Bà Nễ Ca Giã Sa Hạ, A Sắt Tra Ma Hạ Bạt Giã Ðà Ra Ni Sa Hạ, Duyệt Ða Phạ Lang Noa Giả Sa Hạ, Tát Lị Phạ Ðát Tha Nga Ða Na Ma Ðà Ra Ni Sa Hạ, A Thi Ðế Bát Nạp Ma Thiết Nễ Ca Giả Ðát Tha Nga Ða Ðà Ra Ni Sa Hạ, Bát Nạp Ma Hạ Tất Ða Giả Sa Hạ, Tát Lị Phạ Mãn Ðát Ra Ðà Ra Ni Sa Hạ.
Lúc bấy giờ, Quán Tự Tại Bồ-tát nói đà-ra-ni rồi, lại bạch Phật rằng: “Kính thưa đức Thế tôn! Nếu có kẻ trai lành, gái tín thọ trì, đọc tụng, tư duy, ghi nhớ Nhứt Thiết Như Lai Danh Hiệu đà-ra-ni này, vì kẻ khác truyền nói, người ấy đã có nghiệp ngũ vô gián, thảy được tiêu trừ. Sau khi mạng chung, người ấy sanh lên làm vua chư Thiên, sống lâu tám mươi bốn trăm ngàn cu-chi kiếp số, về sau được làm địa vị Chuyển luân Thánh vương sống 60 trung kiếp. Qua kiếp đó rồi, người ấy sẽ được thành Phật gọi là Liên Hoa Tạng Như Lai Ứng cúng Chánh đẳng Chánh giác”.
Lúc đức Thế tôn nói Kinh này rồi, tám vạn Ðại Bồ-tát chúng và tám vạn bốn ngàn Ðại Phạm Thiên tử nghe đức Phật nói, đều đại hoan hỷ tín thọ phụng hành.

Kinh Nhứt thiết Như Lai Danh hiệu đà-ra-ni (hết)
Sa-môn Thích Viên Đức dịch ra Việt văn, bản đánh máy năm 1975.
 
Vi tính: Nguyễn minh Hoàng và Nguyễn thị Diệu Minh.
Source: thuvienhoasen

“Everything is energy” – Albert Einstein
Tất cả đều có năng lượng. Riêng số điện thoại thì không? :D
Có khá nhiều bài viết về số điện thoại thoại đẹp có thể tìm thấy ở trên mạng (http://goo.gl/4fVgGE) và cũng có thể tìm thấy một số bài viết về số điện thoại, biển số xe đẹp trong các tác phẩm về phong thủy tài vận của các nhà thuật số châu Á Hongkong, Taiwan, Trung Quốc …
Về cơ bản có nhiều lý thuyết về số đẹp, dựa trên nền tảng các lý luận khác nhau, dựa trên kinh nghiệm và sở đoán của từng người, dựa trên tập quán quan niệm dân gian của từng nơi. Bộ môn về số liên quan đến vận mệnh con người (numerology) hiện đại chưa thấy đứng riêng hình thành nên một tác phẩm kiểu như là “Tính danh học” với việc trình bày phương pháp tính đa dạng, phong phú theo các phái khác nhau. Nhưng có thể nói số điện thoại đẹp lan truyền về ảnh hưởng của nó có khi lớn hơn việc đặt tên theo Tính danh học để cải vận, phải chăng vì việc chọn một số điện thoại dễ hơn việc đổi tên. Theo lý thuyết về thần số học thì tên cũng có thể quy ra con số, theo lý thuyết Tính danh học thì tên cũng ảnh hưởng cuộc đời của mỗi con người, vậy thì số điện thoại liệu có ảnh hưởng đến cuộc sống của mỗi cá nhân?
Chúng ta đã biết thông tin mang năng lượng, thông tin lạc quan mang năng lượng tích cực, thông tin bi quan mang năng lượng tiêu cực. Và sống trong thời đại thông tin, kết nối toàn cầu cũng mang thông tin, những con số bản thân cũng mang thông tin và năng lượng vô hình theo nó. Khi kết nối giữa con người với con người là kết nối giữa các sóng thông tin, bit nhị phân, giữa các con số và con số, các năng lượng của các con số khi lên sóng cũng đồng thời là khi nó kích hoạt năng lượng của nó. Vấn đề ở chỗ cách đo được năng lượng và tác động của nó đến mỗi chúng ta như thế nào?
Con số mang năng lượng
Mỗi con số khi đọc tên, khi nhìn hình dáng đều gợi trong chúng ta đến 1 sự liên tưởng hoặc một cảm giác nào đó. Đối với mỗi người có một con số đặc biệt may mắn, hoặc con số đặc trưng cho những việc lặp đi lặp lại trong quá khứ. Gần đây còn có phương pháp chữa bệnh bằng niệm số để chữa bệnh, kết quả cho thấy có hiệu quả đối với một nhóm người trong việc điều trị một số bệnh đặc thù. Về cảm quan, có thể thấy rằng con số có mang năng lượng nhất định. Tổ hợp các con số tạo nên một loại năng lượng vô hình nào đó.
Ngẫu nhiên và tất nhiên
Con số cùng với toán học và những hiện tượng ngẫu nhiên đã làm đau đầu bao học giả nghiên cứu về thế giới tự nhiên. Tác giả Nguyễn Bá Đô trong bộ sách Các câu chuyện toán học có nói về phạm trù: ngẫu nhiên và tất nhiên; cái đã biết trong cái chưa biết; hình tượng trong trừu tượng. Từ đó ta có thể liên hệ: Vậy phải chăng mỗi cá nhân khi dùng số điện thoại đã ngẫu nhiên chọn một số điện thoại thể hiện tất nhiên 1 phần cuộc đời họ, liệu có thể đọc cái đã biết trong cái chưa biết là các con số điện thoại đó không, đọc được hình tượng sự việc cuộc đời trong con số trừu tượng của các dãy số. Và nếu nhìn lại xa hơn về lý thuyết thần số học của Pythagore, có thể thấy từ các con số ngày tháng năm sinh ông đã phát kiến ra được nhiều vấn đề thú vị về đường đời của mỗi cá nhân (Trả lời các câu hỏi: Bạn là ai? Tính cách nổi bật, đại diện cho con người của bạn là gì?  Bạn phản ứng như thế nào đối với niềm vui, nỗi buồn, các biến cố đặc biệt trong đời? Cuộc sống của bạn ra sao? Bạn hợp với người nào hay con số nào?)
Số điện thoại như bộ quần áo vô hình
Sự phát triển của thời đại công nghệ thông tin và viễn thông làm xã hội và con người thay đổi, bên cạnh một cái tên, ít nhất với mỗi người gắn với ít nhật một con số, đó là số điện thoại cá nhân (hoặc số điện thoại bàn). Nhưng ở đây có lẽ chúng ta sẽ xem xét số điện thoại di động cá nhân nhiều hơn, bởi vì nó gắn với một chủ sở hữu nhất định. Trong hầu hết các trường hợp gọi đến 1 số điện thoại di động là gọi đến 1 con người cụ thể nào đó. Để thể hiện đẳng cấp VIP của mình, nhiều cá nhân đã chọn số điện thoại đẹp lục quý, tứ quý, tam hoa, số gánh,… như là một bộ quần áo sang trọng vô hình trên mạng kết nối di động. Người xưa nói y phục xứng kỳ đức, một chiếc áo choàng không làm nên thầy tu. Vì vậy, số điện thoại đẹp long lanh bởi lục quý, ngũ quý … cũng chưa chắc xứng với một phẩm chất của một cá nhân. Nhưng một số điện thoại quá xấu, khấp khểnh toàn những con số mang cảm giác đen đủi gì đó lại có thể làm mọi người bàn tán và làm cho cá nhân sử dụng cảm thấy không an tâm. Số điện thoại có thể nói như một bộ quần áo vô hình, các nhà thuật số chắc sẽ nhìn thấy ở đó như một bộ quần áo khoác lên có tương xứng với người công chức, người kinh doanh, hay người làm quan trường hay không. Những người kém may mắn, có thể vô tình mặc một bộ quần áo - số điện thoại không được đẹp cho lắm và có thể đôi chỗ có những khiếm khuyết. Nhưng thật may mắn là sách về sim phong thủy chưa ra đời, nên nó vẫn là một lý thuyết "mờ".
Thế nào là số điện thoại đẹp, khái niệm sim phong thủy
Những năm đầu khi điện thoại di động mới phát triển, quan niệm về số đi liền với đặc điểm là các con số dễ nhớ và đặc biệt: số lặp lại càng nhiều càng tốt, nhất là ở các chữ số cuối của số điện thoại; có thể lặp 1 con số hoặc lặp lại theo cụm 2 hoặc 3; hoặc là các số có thứ tự tăng lên. Những số như vậy đẹp ở ý nghĩa đặc biệt, nhìn có tính quy luật và hiếm. Dần dà sau này các nhà thuật số học (tạm gọi các chuyên gia tư vấn như vậy) chọn số điện thoại đi cùng với các quan niệm về số đẹp được hiểu theo nghĩa tác động tích cực đến vận mệnh của các cá nhân xuất hiện. Những quan điểm về số đẹp nhiều khi lại liên đới sang khía cạnh các con số phong thủy (theo cách tính của huyền không phi tinh), vì thế việc chọn sim số đẹp với mong muốn cải được vận mệnh của các cá nhân, được gọi là sim phong thủy. Các quan niệm về xem số như phần trên đã nói rất đa dạng và tùy từng nơi, mỗi người có một quan niệm khác nhau. (Có thể tham khảo một số quan điểm về số đẹp tại bài sưu tâm này http://goo.gl/4fVgGE)
Sim phong thủy không hoàn toàn là phong thủy
Nhiều tác giả cho rằng sim phong thủy (tức là sim đẹp để cải vận) không hoàn toàn tính toán dựa trên phong thủy. Bởi lẽ sim điện thoại là vô hướng, trong khi đó với phong thủy việc chọn hướng là mấu chốt cơ bản nhất. Sim điện thoại được xem là đối tượng phong thủy khi và chỉ khi nó phối kết với một con người cá nhân cụ thể, tương tự giống như việc sử dụng cung phi phong thủy để xem tuổi phối hôn giữa hai người nam và nữ. Vì thế, có một số người có thể sẽ có quan niệm nên kiêng số 5 trong số điện thoại, bởi vì là số của Ngũ hoàng sát cần phải tránh, hoặc họ sẽ coi trọng việc chọn chuỗi tam ban toàn bàn xảo số trong chuỗi số điện thoại (147, 258, 369) thì sẽ tốt – điều này tôi thấy không hợp lý lắm vì trong số điện thoại không phân biệt đâu là sơn tinh, đâu là hướng tinh. Tựu trung lại khi sim điện thoại đẹp dùng để cải vận gọi là sim phong thủy thì chúng ta chấp nhận như là một khái niệm mang tính quy ước để gọi tên những sim điện thoại được lựa chọn với mong muốn cải vận một cá nhân nào đó tốt lên – chứ không có nghĩa là chúng ta sử dụng chủ yếu các phương thức tính toán của phong thủy đối với số điện thoại. Còn rất nhiều phương thức và thuật số học khác có thể không chỉ giới hạn trong bài “Thần số học - khoa học về tiên đoán” mà còn rất nhiều quan điểm lưu truyền trong quan niệm của người dân.
Số điện thoại cũng có thể coi như một liều thuốc
Số điện thoại mang năng lượng, vì vậy cũng có thể coi số điện thoại là một liều thuốc với mỗi cá nhân. Liều thuốc đó là tốt, hoặc liều thuốc đó là xấu và sẽ song hành cùng cá nhân đó đến khi cá nhân đó thôi hoặc bỏ hẳn số điện thoại đó đi.
Hãy tưởng tượng, nếu đó là số điện thoại xấu tức là bạn có 1 số mang năng lượng xấu – như là một liều thuốc xấu hàng ngày bạn phải chung sống cùng nó. Đến một ngày bạn chọn được 1 số đẹp (giả sử vậy), 1 số mang năng lượng tốt – như là một liều thuốc tốt. Vì những mối quan hệ ràng buộc với số cũ, bạn dùng song song cả 2 số. Thử hỏi bạn thấy thế nào khi vừa dùng thuốc độc vừa dùng thuốc bổ thì hiệu quả sẽ đến đâu?
Dùng số điện thoại cũng như sử dụng thuốc vậy. Tùy mỗi người sẽ hiệu quả với loại thuốc khác nhau. Có thể một số điện thoại nhiều người cho là xấu, nhiều sát khí nhưng vẫn phù hợp với những người cần quan vận (dĩ độc trị độc) những người đó càng có nhiều khó khăn, thăng trầm lại càng phát mạnh mẽ (nhưng những trường hợp này thì lại hiếm gặp). Vì vậy việc xem số điện thoại tốt nhất là nên gắn với một cá nhân cụ thể.
Năng lực cải vận của số điện thoại
Trong quan niệm của người dân châu Á, quan niệm đẹp hay xấu của số điện thoại đã dường như tạo niềm tin trong bản thân những người có quan tâm về vấn đề này. Vì vậy, khi có niềm tin đó là một loại năng lượng tích cực thúc đẩy nội tại con người ta một cách tốt hơn. Bên cạnh đó các nhà học thuật phong thủy, lý số cũng đã hình thành những triết thuyết nền tảng cơ bản để tính toán và áp dụng cho số điện thoại. Về cơ bản việc áp dụng dịch lý trong số điện thoại được sử dụng khá phổ biến, tiếp đến là sử dụng quan điểm huyền không phi tinh của phong thủy (mà giai đoạn hiện nay chúng ta đang ở trong vận 8). Nhà nghiên cứu Lý Cư Minh cũng có viết 1 chương ngắn trong tác phẩm phong thủy cải vận của mình và ông cho rằng việc quy các con số thành 1 chuỗi các cặp gồm 02 chữ số - sử dụng để tra can chi trong lục thập hoa giáp – rồi sau đó tính toán ra âm dương ngũ hành để định lượng về lý tính của số điện thoại, và trong đó ông dẫn chứng một số đại gia thành công khi sử dụng những con số đẹp cho xe cộ, số điện thoại. Trong quan niệm của người dân buôn bán và làm ăn, trong dân chúng nói chung thì người ta ưa chọn số có đuôi đẹp như 86 (phát lộc), 68 (lộc phát), 39 (thần tài nhỏ), 79 (thần tài lớn)… Dựa vào việc lựa chọn đó có khá nhiều người cũng cho rằng sử dụng số điện thoại đã có hiệu quả và tác động rõ rệt. Trong gần 10 năm kiểm nghiệm và chọn số điện thoại cho hàng trăm người, tôi cũng được một số bạn bè tín nhiệm và thấy rằng, số điện thoại có một tác động nào đó đến vận mệnh của họ.
Quan điểm chọn số điện thoại đối với mỗi cá nhân
Nếu có thể hiểu rõ ngọn ngành về nguyên tắc chọn số đẹp, và hình thành một triết thuyết riêng như Tính danh học, chắc hẳn các sim phong thủy đẹp sẽ ngày càng đắt và khan hiếm. Nhưng thật may mắn là có rất nhiều quan điểm khác nhau, mỗi người sẽ có duyên với các lý luận khác nhau.  
Số điện thoại đẹp với mỗi cá nhân như là một liều thuốc để chữa mệnh, như một bộ quần áo vô hình tương xứng với con người của họ. Lý thuyết về dụng thần tứ trụ vì thế có thể sẽ là một lý thuyết tương đối hoàn hảo đi kèm cùng lý thuyết số điện thoại để chỉ ra một người thiếu và thừa ngũ hành nào, để từ đó lựa chọn sim số điện thoại phù hợp góp phần nhằm bổ sung, cân bằng mệnh, vận của một người.
Số điện thoại không phải là thần dược, việc thay đổi số điện thoại cũng chỉ nằm trong 14 mục được liệt kê trong các vấn đề có tác dụng cải vận. Số mệnh, vận mệnh của mỗi con người còn ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khác. Đôi khi số điện thoại đẹp có tác dụng lớn, đôi khi có tác dụng chẳng bao nhiêu. Nhưng số điện thoại đẹp cũng như bộ quần áo đẹp nó góp phần ẩn giấu giúp bạn những yếu tố tất nhiên mà các nhà thần số học sẽ không thể nhìn ra qua số điện thoại.
Nguyên tắc chọn số điện thoại
Chọn một số điện thoại là bao hàm đầy đủ việc chọn tất cả các con số chứ không phải chỉ chọn 02 số đuôi, hay một số con số nào đó. Việc chọn một số điện thoại đầu tiên phải hình dung không khác gì cách đặt tên trong “Tính danh học”, tức là một số điện thoại đẹp cần phải là tổ hợp của tất cả các con số của số điện thoại di động (10, hoặc 11 số). Các thành phần trong tên gọi tạo nên các cách cục, vì vậy cũng cần phải đủ các thành phần của số điện thoại mới tính được các cách cục và bao hàm đầy đủ các thông tin để chúng ta tính toán theo bất cứ phương pháp nào của Thần số học (kinh dịch, Pythagore,…).
Khi nào nên chọn sim phong thủy
+ Đối với cá nhân: Chọn số điện thoại làm đẩy mạnh tài vận, hoặc những vấn đề khuyết thiếu trong vận mệnh của mỗi cá nhân. Như tăng khí ngũ hành cho mệnh, vận, góp phần chuyển đổi
+ Đối với người làm ăn buôn bán, chủ doanh nghiệp: Chọn số điện thoại cho ngoài chọn cho bản thân mình, bạn có thể chọn cho nhân viên, người nhà những số điện thoại phù hợp để nhân viên có thể tận tình hơn trong công việc và tăng may mắn trong các lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Theo quan niệm dân gian, sim điện thoại giống như vật phẩm phong thủy, tốt hay xấu thì sau 100 ngày ngấm âm dương khi đó sẽ hiệu quả rõ rệt hơn đối với mỗi người. (Tuy nhiên kinh nghiệm cho thấy, tùy từng trường hợp cụ thể, có thể có người sẽ cảm thấy hiệu quả đến rất nhanh).
+ Việc sử dụng song song cùng số cũ là số xấu thì số đẹp cũng không có tác dụng. Điều đó chẳng khác nào vừa uống thuốc bổ đồng thời vẫn uống thuốc độc.
+ Kinh nghiệm cho thấy, một số người sử dụng sim điện thoại xấu thì khi bỏ số xấu đi những điều xấu bất ngờ ập đến. Điều này có thể hình dung như khi bạn thổi tắt một ngọn đèn, thời khắc vào những giây cuối cùng ngọn lửa bao giờ cũng bùng lên. Tựu trung lại nếu biết là số xấu, rất xấu thì có lẽ nên bỏ. Đôi khi với 1 số người việc bỏ hẳn đi 1 số cũ là số xấu sẽ có thể phát sinh những vấn đề không hay (thực ra đó có thể là những vấn đề tiềm ẩn và thông tin nằm trong số điện thoại của bạn ngẫu nhiên trùng với vấn đề trong số mệnh của bạn – đến lúc bạn dứt bỏ nó thì như chữa bệnh, bệnh phải bộc phát ra rồi mới khỏi).
Nghiệm lý số điện thoại
Tôi đã có một số năm xem và tư vấn số điện thoại cho hàng trăm người. Thời gian này, tôi cũng muốn thử chiêm nghiệm lại với các bạn không quen biết trên mạng về lý thuyết của mình qua nhiều năm có thay đổi gì không. Các bạn nào quan tâm hãy like Fan pages và PM riêng qua tài khoản của trang cho tôi. Tôi cố gắng sẽ dành thời gian xem miễn phí cho các bạn mỗi ngày từ 3-5 người, mỗi người tối đa 3 số điện thoại. Thông tin các bạn gửi sẽ bao gồm: 1/Năm sinh của bạn; 2/số điện thoại, 3/thời gian bắt đầu sử dụng. Tại topic này: https://goo.gl/xhVhuI


Một số thông tin phản hồi mà tôi đã xem cho mọi người trước đây: https://goo.gl/DJnHud 
Tài liệu tham khảo:
1.     Phương pháp chữa bệnh bằng niệm số, http://www.trithuchoangkim.com/2016/01/phuong-phap-chua-benh-bang-niem-so.html
2.     Kỳ lạ phương pháp trị bệnh bằng Niệm số của TS. Y Học Nguyễn Hữu Khaihttp://khicongydao.com/ky-la-phuong-phap-tri-benh-bang-niem-so-cua-ts-y-hoc-nguyen-huu-khai/
3.     Thần số học - khoa học về tiên đoán https://goo.gl/dk7l4O 

4.  14 lĩnh vực cải vận kết hợp qua xem dụng thần tứ trụ https://goo.gl/toKjcI
4.     Danh sách các bài viết khác trên Fan Page https://goo.gl/VuBqIg

MKRdezign

{facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google-plus#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget